Fr. Timothy Radcliffe, OP.

Nguyên Tổng Quyền Dòng Anh Em Giảng Thuyết.

 

 

THƯ GỬI TOÀN DÒNG

Thứ tư lễ Tro, ngày 25 tháng 2 năm 1998

“Tôi đến để chúng được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10)

 

Khi trao tu phục cho anh em, Thánh Đaminh hứa sẽ cho anh em “bánh đem lại sự sống và nước uống trên trời”.[1] Nếu chúng ta là những người thuyết giảng lời đem lại sự sống, chúng ta phải tìm được “bánh đem lại sự sống” trong cộng đoàn của mình. Cộng đoàn có giúp chúng ta triển nở không, hay chỉ giúp chúng ta sống còn?

Khi tôi vào Dòng được ít lâu, bề trên tổng quyền Aniceto Fernandez đến kinh lý Tỉnh Dòng. Cha chỉ hỏi tôi một câu, câu hỏi truyền thống của tất cả các vị kinh lý: “Anh có hạnh phúc khi ở trong Dòng không?”. Tôi đã chờ đợi một câu hỏi sâu xa hơn, chẳng hạn về việc rao giảng Tin Mừng, hoặc về những thách đố của Tỉnh Dòng. Bây giờ thì tôi nhận ra rằng đây là câu hỏi đầu tiên chúng ta phải đặt ra cho anh em: “Anh có hạnh phúc không?”. Hạnh phúc đúng nghĩa, đó là sống như một tu sĩ Đaminh, và hạnh phúc này là nguồn mạch việc giảng thuyết của chúng ta. Không phải là một sự phấn khởi triền miên, một “sự ngây thơ” bất tận. Hạnh phúc này bao hàm một khả năng biết buồn sầu. Hạnh phúc ấy có thể trống vắng một thời gian, có khi là một thời gian lâu dài. Đó là nếm thử cuộc sống phong phú mà chúng ta rao giảng, là niềm vui của những người đã từng chia sẻ sự sống của Thiên Chúa. Chúng ta phải biết sống vui vì chúng ta là con cái Nước Trời. “Vui tươi phấn khởi là đặc tính nội tại của đời sống vinh phúc mai sau và cũng là đặc tính của đời sống lữ hành, nhờ hồng ân Chúa Thánh Thần, đang hướng tới cõi vinh phúc ấy”.[2] Mỗi buổi tối, khi hát kính Thánh Đaminh, chúng ta kết thúc: “Nos junge beatis” – “Xin cho  chúng con được hợp đoàn với các thánh nhân”. Xin cho chúng con giờ đây được thưởng nếm đôi chút hạnh phúc của các ngài.

Nếu muốn xây dựng những cộng đoàn có sự sống dồi dào, chúng ta phải nhận thức được chúng ta là ai, chúng ta là gì, và đối với chúng ta – nam cũng như nữ, anh em cũng như chị em, các nhà giảng thuyết – cuộc sống có ý nghĩa gì.

Chúng ta không phải là thiên thần. Chúng ta là những thụ tạo có đam mê, luôn bị thôi thúc bởi bản năng thú tính. Đây là bản tính mà Ngôi Lời sự sống đã chấp nhận khi Người mặc lấy bản tính nhân loại. Chúng ta không thể làm gì khác hơn. Chính từ nơi đây khởi đầu cuộc hành trình tiến tới sự thánh thiện. Tuy nhiên, chúng ta được Thiên Chúa tạo dựng giống hình ảnh Người, được tiền định trở nên bạn hữu với Người. Chúng ta “có khả năng trở nên như Thiên Chúa”, khao khát Thiên Chúa. Sống có nghĩa là lao mình vào cuộc mạo hiểm dẫn chúng ta tới Nước Trời.

Chúng ta cần có cộng đoàn nâng đỡ trong cuộc hành trình này. Thiên Chúa đã hứa, “Ta sẽ lấy khỏi các ngươi quả tim bằng đá và ban tặng các ngươi quả tim bằng thịt” (Ed 36:26). Chúng ta cần có anh em, chị em đồng hành khi trái tim chúng ta tan vỡ và mềm yếu.

Người khôn ngoan luôn luôn biết rằng không có con đường nào đưa tới sự sống mà lại không dẫn người ta ngang qua sa mạc. Cuộc hành trình từ Ai Cập về Đất Hứa phải băng qua sa mạc. Muốn có hạnh phúc và muốn sống đúng nghĩa, chúng ta cũng phải đi qua con đường ấy. Chúng ta cần có cộng đoàn đồng hành, và giúp chúng ta tin tưởng rằng Chúa dẫn Israel vào sa mạc chính là để “tâm sự với nó” (Hs 2:16). Có lẽ, trong thời gian 30 năm qua, quá nhiều người rời bỏ nhà dòng, không phải vì đời tu khó khăn hơn thời trước, nhưng vì đôi khi chúng ta không nhận ra thực tế rằng đêm tối thuộc về bản chất cuộc tái sinh của chúng ta, là những người sống với niềm vui của Nước Trời. Như vậy, cộng đoàn không chỉ là nơi chúng ta sinh tồn, mà còn là nơi chúng ta tìm thấy lương thực cho cuộc hành trình.

Nói theo kiểu một ẩn dụ mà tôi đã triển khai ở một nơi khác,[3] thì cộng đoàn tu trì cũng giống như những hệ sinh thái, có mục đích nâng đỡ những hình thái sống khác lạ. Một con ếch quý hiếm phải cần đến hệ sinh thái thích hợp nếu nó muốn sinh sôi nẩy nở, và vượt qua được tiến trình biết hóa đầy bất trắc đi từ trứng đến nòng nọc rồi đến ếch. Nếu con ếch có nguy cơ bị tuyệt chủng, người ta phải tạo ra một môi trường có thức ăn, ao hồ và khí hậu thích hợp để nó có thể phát triển. Nếu chúng ta muốn sống cho trọn vẹn, và muốn rao giảng lời đem lại sự sống, thì đời sống Đaminh cũng cần một hệ sinh thái riêng. Nói mà thôi thì chưa đủ, chúng ta phải tích cực lên kế hoạch và xây dựng những hệ sinh thái Đaminh như thế.

Trước hết, đây là trách nhiệm của mỗi cộng đoàn. Chính các anh em và chị em sống chung với nhau phải kiến tạo những cộng đoàn trong đó chúng ta không chỉ tồn tại mà còn phát triển, trao tặng cho nhau “bánh đem lại sự sống và nước uống trên trời”. Đây là mục tiêu nền tảng của “dự phóng cộng đoàn” mà ba tổng hội mới nhất đã đề ra. Chúng ta chỉ có thể làm được chuyện đó nếu chúng ta dám nói với nhau về những gì tác động đến chúng ta cách sâu xa nhất, xét như chúng ta là người và là tu sĩ Đaminh. Tôi hy vọng rằng lá thư này sẽ mở ra một cuộc thảo luận về một số khía cạnh trong đời sống Đaminh. Tôi muốn nói đến đời sống tông đồ, đời sống tình cảm và đời sống cầu nguyện. Đây không phải là ba phần của một cuộc sống (Chiêm niệm: từ 7g-7g30; Tông đồ: từ 9g-17g; Tình cảm?). Cả ba khía cạnh đều thuộc về cuộc sống trọn vẹn của bất cứ ai là người và là tu sĩ Đaminh thực thụ. Ông Nicodemus hỏi Đức Giêsu cách thức để sinh lại. Đây cũng là câu hỏi của chúng ta: làm sao để giúp nhau khi phải đối mặt với sự biến đổi, để trở nên những tông đồ của cuộc đời?

Không phải cộng đoàn nào cũng có thể canh tân chính mình và đạt tới lý tưởng như Hiến pháp và các tổng hội mới đây vạch ra. Do đó mỗi Tỉnh Dòng phải thảo ra một kế hoạch để dần dần canh tân các cộng đoàn trong đó anh em có thể triển nở. Chỉ nên bổ nhiệm các anh em trẻ vào những cộng đoàn này. Họ sẽ mang trong mình mầm giống cho tương lai đời sống Đaminh. Nếu không có kế hoạch xây dựng những cộng đoàn như thế, Tỉnh Dòng sẽ tàn lụi. Một Tỉnh Dòng chỉ có ba cộng đoàn, nhưng ở đó anh em đều thăng tiến trong đời sống Đaminh, thì Tỉnh Dòng đó sẽ có tương lai, nhờ ân sủng Thiên Chúa. Ngược lại, một Tỉnh Dòng có 20 cộng đoàn, nhưng ở đó, anh em chỉ tồn tại mà thôi, thì có thể Tỉnh Dòng đó sẽ chẳng còn gì.

I. ĐỜI SỐNG TÔNG ĐỒ

1. Một đời sống mở toang ra

Đời sống Đaminh trước hết là đời sống tông đồ. Có lẽ chúng ta dễ dàng hiểu điều này theo nghĩa một tu sĩ Đaminh tốt là người luôn luôn bận rộn, dấn thân vào “những công việc tông đồ”. Thế nhưng đời sống tông đồ không phải là việc chúng ta làm cho bằng cuộc sống của chúng ta, là những người được kêu gọi để “sống cuộc đời của các tông đồ theo thể thức Thánh Đaminh đã ấp ủ”.[4] Đức giám mục Diego nói với các đặc sứ dòng Xitô được sai đi rao giảng cho những người phái Albigense: “Hãy theo gương Thầy chí thánh mà ra đi trong khiêm tốn, giảng dạy và hoạt động, đi bộ, không mang vàng bạc, bắt chước cuộc sống của các tông đồ trong mọi sự”.[5] Trở nên người tông đồ tức là mang lấy một cuộc sống, chứ không phải là có một việc làm.

Đặc tính đầu tiên của cuộc đời tông đồ này chính là chia sẻ sự sống của Đức Kitô. Tông đồ là người đồng hành với Đức Kitô “trong suốt thời gian Người đi lại giữa chúng ta” (Cv 1:21). Họ được Chúa kêu mời, lên đường với Người, lắng nghe Người, nghỉ ngơi và cầu nguyện với Người, tranh luận với Người, và được Người sai đi. Họ chia sẻ cuộc sống của đấng Emmanuel, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Đỉnh cao của cuộc sống này là việc chia sẻ Bữa Tối Sau Hết, Bí tích của Bánh Ban Sự Sống. Tuy thế, vẫn có một kẻ đã bỏ đi trước, vì anh ta có quá nhiều việc phải làm.

Như vậy, đối với chúng ta, đời sống tông đồ không phải chỉ là những tác vụ tông đồ chúng ta làm. Đó là một lối sống. Viết về việc giảng thuyết, anh Yves Congar, O.P. nói, đó là “một ơn gọi, ơn gọi đó là bản chất cuộc sống và con người của tôi”.[6] Nếu những đòi hỏi của việc tông đồ khiến chúng ta không có thời giờ để cầu nguyện và dùng bữa chung với anh em, chia sẻ cuộc sống của anh em, thì cho dù có bận bịu, chúng ta cũng không phải là người tông đồ đúng nghĩa. Tôn sư Eckhart viết: “Không nên lo lắng quá nhiều về những gì chúng ta phải làm; tốt hơn là nên nghĩ cách phải sống thế nào. Nếu bản thân và đường lối của chúng ta tốt, thì những gì chúng ta làm sẽ tỏa sáng”.[7] Thánh Đaminh là nhà giảng thuyết với trọn con người của mình.

Nhưng đời sống tông đồ này nhất thiết sẽ phân tán con người chúng ta. Đây chính là nỗi đau và là nguồn mạch dồi dào của đời tông đồ. Bởi vì Ngôi Lời Thiên Chúa, Đấng mà các Tông đồ chia sẻ cuộc sống của Người, đã vươn tới và ôm ấp lấy tất cả những gì xa lạ nhất đối với Thiên Chúa. Theo tôn sư Eckhart, Ngôi Lời vẫn là một với Chúa Cha trong lúc Người lăn lộn với trần gian. Chẳng có ai là kẻ xa lạ đối với Người. Sự sống của Thiên Chúa bao trùm  tất cả mọi nơi chúng ta hiện diện; Người đã trở nên giống chúng ta trong mọi sự, ngoại trừ tội lỗi. Người gánh lấy những nghi hoặc và sợ hãi của chúng ta; Người cảm nghiệm sự phi lý, một thứ sa mạc nơi mà mọi sự đều mất hết ý nghĩa.

Như vậy, đối với chúng ta, sống đời sống tông đồ trọn vẹn có nghĩa là nhận ra rằng chúng ta cũng bị xé nát ra, bị căng ra. Giảng thuyết không chỉ là nói cho dân chúng nghe về Thiên Chúa. Giảng thuyết là mang lấy trong đời sống của mình khoảng cách giữa sự sống của Thiên Chúa với cái xa lạ nhất, bị tha hóa và bị thương tổn. Lời của chúng ta là lời hy vọng chỉ khi nào chúng ta đặt mình vào trong hoàn cảnh của những người đau khổ và tuyệt vọng. Lời của chúng ta sẽ không phải là lời đồng cảm trừ phi chúng ta đảm nhận những thất bại và cám dỗ của họ như là của chính mình. Lời của chúng ta sẽ không đem lại ý nghĩa gì cho cuộc sống con người, trừ phi chúng ta cảm nghiệm được nỗi nghi hoặc và nỗi khốn cùng của họ. Tôi nghĩ tới những anh em người Pháp, sau một ngày giảng dạy và nghiên cứu thần học, tối đến tản bộ trên các vỉa hè, gặp gỡ những người gái điếm, lắng nghe những nỗi niềm đau khổ của họ, và đem lại cho họ một lời hy vọng. Bởi vậy không lạ gì khi ngay từ đầu, tu sĩ Đaminh chúng ta đã bị mang tiếng! Đó là một cú liều đối với ơn gọi. Thế kỷ XIV, anh Jordan Rivalto bảo dân chúng: đừng quá khắt khe với các tu sĩ khi thấy họ hơi “luộm thuộm”. Đó là một phần trong ơn gọi của chúng ta: “hiện diện giữa mọi người, nhìn thấy mọi sự ở đời, làm sao mà không luộm thuộm đôi chút được. Họ là những con người xác phàm như anh chị em, đang tuổi xuân phơi phới; sạch boong mới là chuyện lạ. Đây không phải là chỗ dành cho các nhà tu kín cổng cao tường!”.[8]

Như thế, đời sống tông đồ không đem lại cho chúng ta một “kiểu cách sống” quân bình và lành mạnh, với những triển vọng tốt đẹp cho nghề nghiệp. Vì nó làm cho chúng ta mất thăng bằng, nó thẩy chúng ta vào một chỗ hoàn toàn khác. Nếu chia sẻ đời sống của Ngôi Lời Thiên Chúa theo cách này, chúng ta sẽ trở nên trống rỗng, mở toang ra, để có khoảng không gian và sự tĩnh lặng cho một lời mới được sinh ra, như thể là lần đầu tiên. Là những người có đức tin, chúng ta mở rộng lòng mình đến với những người không tin. Đôi khi chính chúng ta cũng nghi ngờ tất cả những điều chúng ta vẫn tin tưởng. Chúng ta giống như các Tông đồ, những người được Chúa Kitô kêu gọi, và đi lên Jerusalem với Người, biết rằng duy mình Người mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Vậy mà họ lại tranh cãi xem ai là người lớn nhất, và thường chẳng biết mình đang đi đâu.

Như vậy, đời sống tông đồ đặt chúng ta vào một cuộc sống căng thẳng. Chúng ta đã hứa xây dựng cuộc đời với anh chị em. “Từ nay đối với chúng ta, để là người, để là chính mình, có nghĩa là trở nên một trong những anh em giảng thuyết, chúng ta không có một cuộc đời nào khác”.[9] Đây là nhà của chúng ta, chúng ta không thể có nơi nào khác. Nhưng động lực của đời sống tông đồ thúc đẩy chúng ta đi đến những thế giới mới. Động lực ấy đã từng đưa nhiều anh em đi vào thế giới kỹ nghệ, thế giới của xưởng máy, của nghiệp đoàn. Nhiều anh em khác đi vào thế giới đại học. Có những anh em đi vào thế giới của Internet. “Jubilatio”, một dự phóng mới của anh em Đaminh Pháp, đưa chúng ta vào thế giới của người trẻ. Dự phóng của anh em ở Benin sẽ đưa chúng ta vào thế giới nông trang sinh thái. Chúng ta đang có mặt trong thế giới Hồi giáo và Do Thái giáo. Sự căng thẳng này sẽ mở toang chúng ta ra, để đời sống duy nhất mà chúng ta sống không phải do chính chúng ta kiến tạo hay dự định, nhưng là đời sống được nhận lãnh như ân huệ mỗi ngày, là “Bánh Đem Lại Sự Sống” mà Thánh Đaminh đã hứa.

2. Làm việc trong xã hội hiện đại

Trong xã hội hiện đại, sự căng thẳng này dễ dàng trở thành sự phân mảnh. Chúng ta có thể trở thành con người có hai đời sống, một như là tu sĩ Đaminh trong cộng đoàn, và một trong tác vụ tông đồ của mình. Đó là do cách quan niệm công việc ngày nay. Nếu điều này xảy ra thì sự căng thẳng đẹp đẽ, đau đớn, phong phú nơi chính đời sống tông đồ sẽ đổ vỡ, và chúng ta chỉ còn là những người đi làm rồi tối về khách sạn nhà dòng ngủ. Chúng ta thử tìm hiểu xem tại sao đây lại là thách đố đặc biệt mà ngày hôm nay chúng ta phải đương đầu.

a/. Những mảnh vụn cuộc đời

Xã hội Tây phương hiện đại làm cho cuộc đời trở nên manh mún. Ngày trong tuần khác với ngày cuối tuần, việc làm khác với sự nhàn rỗi, cuộc sống hoạt động tách khỏi tuổi nghỉ hưu, ít nhất là đối với những người may mắn có được một việc làm. Ban ngày, anh có thể là một giáo viên dạy sử, buổi tối anh là một người cha trong gia đình và ngày Chúa nhật, anh là một Kitô hữu. Sự manh mún này có thể làm cho chúng ta khó sống cuộc sống thống nhất và trọn vẹn. Các tu sĩ Đaminh hầu như có vô vàn vô số phương cách giảng thuyết. Chúng ta có thể là cha sở, giáo sư, công nhân, tuyên úy bệnh viện, thi sĩ, hoặc họa sĩ. Vậy chúng ta sống tác vụ tông đồ này như thế nào với tư cách là một người anh em, là phần tử của cộng đoàn, là những tu sĩ nam nữ đã tuyên khấn? Tôi còn nhớ tôi đã rất xúc động khi nói chuyện với một nhà báo Đaminh trẻ, anh chia sẻ với tôi về những khó khăn khi sống trong thế giới truyền thông. Ban ngày anh sống trong một môi trường với những giả định luân lý, với “kiểu sống” của nó. Buổi tối, anh trở về cộng đoàn của mình. Anh trở nên một con người, một tu sĩ, và một nhà báo như thế nào đây? Lúc trở về tu viện vào buổi tối, chúng ta cũng chỉ muốn giống như những người khác ở đời, đó là giũ bỏ gánh nặng của ban ngày. Những gì chúng ta làm trong công việc, là thuộc về một “cuộc đời khác”.

b/. Tính chuyên môn trong công việc

Càng ngày công việc càng được chuyên môn hóa. Đối với việc thuyết giảng Tin Mừng, thường thì chúng ta cũng sẽ trở thành những chuyên viên tài giỏi. Thậm chí người ta có thể lấy được bằng cấp về giảng thuyết hoặc học vị tiến sĩ về mục vụ. Trong số những người được Chúa Giêsu kêu gọi, đâu có ai tốt nghiệp làm “Tông đồ”. Tính chuyên môn hóa này không có gì là sai. Chúng ta phải giỏi giang và thành thạo như những người cùng làm việc với chúng ta. Tuy nhiên, phải dè chừng cám dỗ muốn trở thành “chuyên viên”. Nó đem lại địa vị và cấp bậc. Nó đặt để chúng ta vào trong một xã hội có giai cấp. Nó cho chúng ta một căn tính và mời gọi chúng ta vào một lối sống. Chúng ta có thể đem lương bổng về cho cộng đoàn. Vị tiến sĩ, giáo sư, cha sở này sẽ trở thành một người khất thực, một tu sĩ khất thực, lữ hành như thế nào đây? Nghề nghiệp có giới hạn chúng ta vào một lộ trình chật hẹp, với triển vọng duy nhất là được thăng quan tiến chức hay không? Nghề nghiệp có cho chúng ta được tự do đáp trả những đòi hỏi bất ngờ của anh em và của Thiên Chúa không?

c/. Luân lý chức nghiệp

Sau cùng, trong xã hội Tây phương, luân lý chức nghiệp đã chiếm ưu thế. Đó là cái lý giải sự hiện hữu của chúng ta. Ơn cứu độ không do làm nhiều công việc, mà do lao động. Những người thất nghiệp bị loại khỏi Nước Trời. Dù chúng ta thuyết giảng điều gì chăng nữa, chắc chắn chủ trương hoạt động cực đoan thường có trong Dòng cho thấy đôi khi chúng ta cũng tin rằng chúng ta có thể cứu độ chính mình bằng những gì chúng ta làm. Chúng ta ca tụng Thánh Đaminh là “Praedicator Gratiae” – “Nhà giảng thuyết ân sủng”, nhưng dù có rao giảng rằng cứu độ là một hồng ân, liệu chúng ta có sống như vậy không? Chúng ta có sống như những người mà đối với họ, cuộc đời, và sự viên mãn của cuộc đời, là một hồng ân không? Đó có phải là cách chúng ta vẫn nhìn anh em không? Chúng ta có tranh đua để tỏ ra mình bận bịu và do đó tỏ mình là người quan trọng không?

3. Sa mạc của cái vô nghĩa

Như vậy, trở nên nhà giảng thuyết tức là có một đời sống mở toang ra. Một cách nào đó, chúng ta phải chia sẻ cuộc Xuất hành của Ngôi Lời Thiên Chúa, Đấng đã đến từ Chúa Cha để ôm ấp tất cả những gì là con người. Đôi khi cuộc Xuất hành này đưa chúng ta vào sa mạc, mà chẳng thấy rõ con đường nào dẫn tới Đất Hứa. Chúng ta giống như ông Job ngồi trên đống phân mà vẫn tuyên xưng Đấng Cứu chuộc ông hằng sống. Lâu lâu chúng ta mới phải ngồi trên đống phân. Nếu chúng ta để cho mình bị tác động bởi nỗi nghi hoặc và xác tín của những con người đương thời, chúng ta sẽ thấy mình ở trong sa mạc, nơi đó Tin Mừng không còn có ý nghĩa gì nữa. “Chúa đã xây tường bít lối tôi đi” (G 19:8).

Cuộc khủng hoảng căn bản của xã hội chúng ta có lẽ là khủng hoảng về ý nghĩa. Bạo lực, sự băng hoại và tình trạng nghiện ngập là những triệu chứng của một căn bệnh sâu xa hơn, đó là đói khát ý nghĩa cuộc sống con người. Để làm cho chúng ta trở thành những nhà giảng thuyết, Thiên Chúa có thể dẫn đưa chúng ta vào trong sa mạc ấy. Ở đó, những cái trước kia chúng ta từng cho là chắc chắn nay sẽ sụp đổ, và Đấng Thiên Chúa mà chúng ta đã từng biết và yêu mến sẽ biến mất. Lúc đó chúng ta sẽ phải chia sẻ bóng đêm u tối của vườn Gethsemane, khi mọi sự có vẻ phi lý và vô nghĩa. Tuy nhiên, chỉ khi nào chúng ta để cho mình bị đưa tới đó, khi mọi sự trở nên vô nghĩa, thì chúng ta mới nghe được lời ân sủng của Chúa: “Ân sủng tỏ mình khi chúng ta vượt qua tình trạng tuyệt vọng để tuyên xưng lời ngợi ca”.[10]

Đối mặt với khoảng trống, chúng ta có thể bị cám dỗ lấp đầy nó bằng những xác tín nửa vời, bằng những đối tượng khác thay vì Thiên Chúa hằng sống. Chủ thuyết chính thống cực đoan mà chúng ta thường thấy trong Hội thánh hôm nay có lẽ là phản ứng sợ hãi của những người đứng bên rìa sa mạc đó, nhưng lại không dám đi vào. Sa mạc là nơi thinh lặng đáng sợ, có thể chúng ta cố gắng tìm mọi cách lấn át đi bằng cách hô vang những định thức cổ hủ cũng với sự chân thành không kém. Nhưng Thiên Chúa dẫn đưa chúng ta vào sa mạc để tỏ cho chúng ta thấy vinh quang của Người. Vì thế, tôn sư Eckhart nói, “Hãy đứng cho vững, và đừng chao đảo vì tình trạng trống rỗng của bạn”.[11]

4. Cộng đoàn sống đời tông đồ

Làm thế nào để cộng đoàn có thể nâng đỡ chúng ta trong đời sống tông đồ này? Làm thế nào để hỗ trợ nhau khi một người anh chị em của chúng ta thấy mình ở trong sa mạc đó, khi mọi sự đều trở nên vô nghĩa?

a/. Tông đồ là người được sai đi

Người tông đồ không xin việc! Chúng ta trao dâng đời sống cho Dòng để được sai đi thi hành sứ vụ của Dòng. Hầu hết các cộng đoàn Đaminh đều có một nhịp sống đều đặn là “sáng cắp ô đi tối cắp về”. Nhưng chúng ta không đi ra ngoài chỉ để làm việc như một viên chức rời khỏi nhà mình. Chính cộng đoàn sai chúng ta đi. Và “khi trở về, các Tông đồ kể lại cho Người những gì họ đã làm” (Lc 9:10). Chúng ta có lắng nghe anh em kể lại những việc họ đã làm trong ngày khi họ trở về nhà lúc chiều tối không? Chúng ta có cho anh em cơ may chia sẻ những thách đố họ gặp khi thi hành tác vụ tông đồ không? Chúng ta đi ra ngoài, đến giáo xứ hoặc lớp học, là vì anh em, nhân danh anh em, đại diện cho anh em. Cộng đoàn hiện diện nơi người anh em, chị em của chúng ta.

Chúng ta chia sẻ kinh nguyện, sáng và chiều, với nhau như thế nào? Có phải chỉ là làm trọn bổn phận chung, hay là một phần trong nhịp điệu của cộng đoàn, một cộng đoàn đã sai các phần tử ra đi và đón nhận trở về? Chúng ta có cầu nguyện cho và cầu nguyện với anh em trong tác vụ tông đồ của họ không? Nếu không, làm sao cộng đoàn chúng ta có thể được gọi là cộng đoàn tông đồ? Có lẽ, nó chỉ còn là một nhà trọ.

Tổng hội Caleruega đã đưa ra những đề nghị tuyệt vời và rõ ràng để cộng đoàn có thể thảo kế hoạch và đánh giá sứ vụ chung của cộng đoàn, nhờ đó anh em trưởng thành trong sự cộng tác có ý nghĩa thực sự. Tôi tha thiết nhắc nhở các cộng đoàn thực thi những khuyến cáo này (số 44).

b/. Trong cộng đoàn, chúng ta phải có khả năng chia sẻ cả đức tin lẫn nỗi ngờ vực của mình

Đối với hầu hết chúng ta, đặc biệt là đối với nhiều anh em gia nhập Dòng hôm nay, chỉ đọc thánh vịnh chung với nhau thì không đủ. Chúng ta phải chia sẻ đức tin đã đưa chúng ta vào Dòng và hiện đang nâng đỡ chúng ta. Đây là nền tảng tình huynh đệ của chúng ta. Có lẽ chúng ta chỉ có thể làm việc này với tính cách thử nghiệm, dè dặt, nhưng dù thế, chúng ta vẫn có thể trao tặng anh chị em “bánh đem lại sự sống và nước uống trên trời”. Các tổng hội thường khuyến cáo nên giảng thuyết mỗi khi cử hành phụng vụ công cộng. Không phải chỉ vì Dòng chúng ta là Dòng giảng thuyết, nhưng còn vì chúng ta có thể chia sẻ đức tin cho nhau.

Chúng ta cũng phải chia sẻ cho nhau những nỗi hoài nghi. Đặc biệt là khi một anh em bước vào chốn sa mạc, khi mọi sự không còn ý nghĩa gì nữa, chúng ta phải để cho anh ta nói. Phải tôn trọng cuộc chiến đấu của anh ta và đừng bao giờ nghiền nát anh ta. Nếu một người anh em dám chia sẻ những thời khoảng u ám và khó hiểu này, và chúng ta dám lắng nghe anh ta, đó có thể là hồng ân lớn lao nhất mà anh ta tặng trao cho cộng đoàn. Thiên Chúa có thể dẫn đưa một người anh em vào trong đêm tối của vườn Gethsemane. Chẳng lẽ chúng ta lại ngủ đang khi anh ta phải chiến đấu sao? Không có gì ràng buộc một cộng đoàn chặt chẽ cho bằng một đức tin mà chúng ta cùng nhau chiến đấu để đạt cho được. Điều này có thể xảy ra ở một phân khoa thần học hay một làng nghèo khổ ở châu Mỹ Latinh. Khi cùng nhau chiến đấu để làm sáng tỏ ý nghĩa chúng ta là ai và chúng ta được kêu gọi làm gì theo tinh thần Tin Mừng, lúc đó chắc chắn chúng ta sẽ kinh ngạc bởi Thiên Chúa là Đấng luôn luôn mới mẻ và bất ngờ. Thậm chí chúng ta còn có thể ngạc nhiên khi gặp gỡ và khám phá ra nhau, như thể là lần đầu tiên vậy.

II. ĐỜI SỐNG TÌNH CẢM

1. Tình yêu cốt ở điều này

“Tình yêu cốt ở điều này, không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta. Anh em thân mến, nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế, chúng ta cũng phải yêu thương nhau” (1 Ga 4:10tt).

Toàn bộ đời sống tông đồ là sự chia sẻ tình thương cứu chuộc Thiên Chúa dành cho nhân loại. Nếu không, việc giảng thuyết của chúng ta khá lắm mới được kể là một công việc, ngược lại, đó là “xỏ mũi” người khác, là quảng bá một ý thức hệ. Tại một số quốc gia, các nhà thờ trống vắng có lẽ là vì việc thuyết giảng Tin Mừng chỉ được xem như là việc hành sử quyền bính hơn là diễn tả tình yêu bao la của Thiên Chúa. Vì thế, để trở thành những nhà giảng thuyết sinh động phong phú, cần phải biết cách yêu mến: “Ơn gọi của tôi chính là tình yêu”.[12]

Nhưng, chúng ta có thể nói ngược lại. Đối với tu sĩ Đaminh, học cách yêu mến có nghĩa là lắng sâu vào mầu nhiệm Thiên Chúa cứu chuộc nhân loại. Mầu nhiệm này là trường học tình yêu của chúng ta. Ngày nay, các vị phụ trách đào tạo tu sĩ trên khắp thế giới đang phải đối đầu với vấn đề “tình cảm” - một từ mà tôi không thích nói đến. Làm sao chúng ta có thể đào tạo những người gia nhập Dòng để họ có khả năng yêu mến lành mạnh và sung mãn như là một tu sĩ sống khiết tịnh? Hầu hết chúng ta rất ít hoặc không được đào tạo để đối phó với những xúc cảm, bản năng phái tính, nỗi khao khát yêu và được yêu. Tôi không nhớ là đã từng được huấn luyện về lãnh vực này chưa. Có lẽ người ta hiểu ngậm, hoặc người ta phấp phỏng hy vọng rằng “dĩ đào vi thượng sách”, hoặc tắm nước lạnh sẽ giải quyết được “vấn đề”. Chao ôi, tôi không thể đào tẩu và cũng không thích tắm nước lạnh.

Trong thư này, tôi không đề cập tới những vấn đề có liên quan đặc biệt đến việc đào tạo và đời sống tình cảm, bởi lẽ có thể nay mai sẽ có một lá thư về việc đào tạo[13]. Tôi chỉ muốn nói điều này, tuyển mộ những thanh nam thanh nữ có đời sống quân bình, không vướng mắc những xáo trộn về cảm xúc, và hy vọng mọi chuyện sẽ tốt đẹp, thì chưa đủ. Liệu những con người quân bình này có dám xả thân vì bạn hữu không? Họ có dám bỏ chín mươi chín con chiên để đi tìm một con chiên lạc không? Họ có dám đồng bàn với hạng gái điếm và người tội lỗi không? Tôi e rằng có thể họ quá dè dặt. Khi chú giải Tin Mừng theo thánh Gioan, thánh Augustin viết: “Hãy chỉ cho tôi một người đang yêu, người ấy sẽ hiểu tôi đang nói gì”.[14] Chỉ những người có khả năng yêu thương mới hiểu được nỗi đam mê của đời sống tông đồ. Nếu không dám để cho mình bị cuốn theo làn sóng của một tình yêu bao la, tất cả những nỗ lực sống khiết tịnh của chúng ta sẽ kết thúc bằng những thử nghiệm (tình dục) có kiềm chế mà thôi. Chúng ta có thể thành công đấy, nhưng lại có nguy cơ phương hại nặng nề cho bản thân. Còn khi thất bại, chúng ta có thể gây thiệt hại khủng khiếp cho tha nhân. Vì thế, nếu động lực tông đồ và khả năng yêu mến của chúng ta không hòa nhập với nhau một cách sâu xa, thì chúng có thể trở thành vấn đề kiểm soát người khác hoặc chính mình. Thế nhưng, Đức Giêsu đã không kiểm soát, không làm chủ mạng sống của Người, mà Người trao quyền đó vào tay chúng ta.

2. “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13)

Tình yêu nhân loại có thể rất đáng trân trọng, nhưng dường như chỉ là một sự thay thế mờ nhạt và trừu tượng cho một tình yêu cá nhân và sâu lắng mà đôi khi chúng ta khao khát. Tình yêu nhân loại ấy thực sự có đủ cho chúng ta không? Và có lẽ chúng ta đều cảm nhận được điều này rõ rệt hơn trong xã hội hôm nay, khi tình yêu tính dục đắm đuối giữa người nam và người nữ được coi là “thời thượng”. Khi cảm thấy tính dục thúc bách, chúng ta có thỏa mãn với tình yêu nhân loại này không?

Thực ra, tình yêu lứa đôi say đắm ấy là một nhu cầu thăm thẳm nơi con người, và tôi sẽ nói vắn tắt về điều này ở phần sau. Tình yêu lứa đôi cũng có thể phản ánh mối tương quan giữa chúng ta với Thiên Chúa, chẳng hạn như trong các bài giải thích thời Trung cổ về Sách Diễm ca. Nhưng lại có thêm một truyền thống giải thích khác có lẽ điển hình cho tính Đaminh nhiều hơn. Đó là trọng tâm Tin Mừng theo thánh Gioan: “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu”. Đó chính là điều mà mầu nhiệm tình yêu muốn nói đến: xả thân vì bạn hữu. Ở đây, chúng ta bắt gặp một tình yêu miên man sâu thẳm: nơi mối tương quan giữa Đức Giêsu với các môn đệ, với hạng gái điếm và thu thuế, với bệnh nhân và người phong hủi, và cả với người Pharisee nữa. Đó là nỗi đam mê mà kết cục là cuộc thương khó dẫn tới đồi Golgotha. Đây không phải là nỗi đam mê của bất cứ một câu chuyện tình yêu nào đó sao?

Xã hội hôm nay nhìn thấy cách yêu thương của chúng ta mà không sao hiểu được, bởi vì dường như chúng ta chối bỏ kinh nghiệm tiêu biểu của tình yêu, đó là sự kết hợp phái tính giữa hai người khác phái. Thỉnh thoảng chúng ta tự cảm thấy rằng, chúng ta đã bỏ lỡ một “kinh nghiệm to lớn”, và chúng ta tưởng mình không sống nổi. Nhưng thánh Thomas Aquinas dạy rằng, trọng tâm sự sống của Thiên Chúa tình yêu là tình bằng hữu, một tình bằng hữu khôn tả giữa Chúa Cha và Chúa Con, chính là Chúa Thánh Thần. Đối với chúng ta, sống và trở nên sinh động tuyệt diệu là khi chúng ta tìm thấy nơi cư ngụ trong tình bằng hữu đó và được biến đổi nhờ tình bằng hữu đó. Tình bằng hữu này sẽ chan hòa trong tất cả việc làm và con người của chúng ta. Aanh Goergen, O.P. đã viết: “Tình trạng độc thân không làm chứng cho điều gì cả, nhưng người độc thân thì có”.[15] Chúng ta làm chứng cho Nước Trời nếu mọi người nhìn thấy chúng ta là những người được đức khiết tịnh giải thoát.

Cộng đoàn của chúng ta phải là trường học của tình bằng hữu. Trong lúc hấp hối, anh Gia Thịnh đã mượn lời Thánh Đaminh để nhủ bảo anh em: “Hãy có lòng hào hiệp và dịu hiền. Hãy giữ lấy tình yêu Thiên Chúa và tình bác ái huynh đệ”.[16] Chúng ta có luôn cư xử hào hiệp và dịu hiền đúng mực với nhau không? Trong đời sống tu trì, người ta hay sợ tình bằng hữu, nhưng trong truyền thống Đaminh có lẽ không có chuyện này. Ngay từ đầu, Dòng đã có những tình bằng hữu đậm đà và sâu lắng: của Cha Đaminh dành cho các anh em và chị em; của anh Jordan Saxony dành cho chị Diana yêu dấu và cho anh Henry; của chị Catarina Siena và anh Raymond Capua. Tôi nhớ lại hồi còn trẻ, trong một Tổng hội, một anh em lớn tuổi đã phát biểu: “Tôi chẳng bao giờ chống lại những tình bằng hữu riêng tư, nhưng tôi kịch liệt phản đối những hiềm thù cục bộ!”. Tình bằng hữu này sẽ không bao giờ loại trừ ai, nhưng có sức biến đổi sâu xa, giải phóng chúng ta một cách cam go và tiệm tiến khỏi tất cả những gì có tính thống trị và chiếm hữu, những lối cư xử trịch thượng hoặc miệt thị. Nếu tình bằng hữu là thông chia sự sống của Chúa Ba Ngôi, nó sẽ là một tình yêu có sức nâng người khác lên tới chỗ bình đẳng và để cho họ được tự do. Như anh Bede Jarrett, nguyên là giám tỉnh Tỉnh Dòng Anh quốc đã viết vào năm 1932: “Ôi tình bằng hữu thật đáng quý, quả là một ân huệ Chúa ban. Xin đừng đàm tiếu về tình bằng hữu đó. Tốt hơn, hãy ca ngợi Đấng Sáng tạo và là mẫu mực của tình bằng hữu, là Tam vị Nhất thể chí thánh”.[17] Nếu quả thật đó là một tình bằng hữu phát xuất từ Thiên Chúa, thì tình bằng hữu sẽ thúc đẩy chúng ta đi vào sứ vụ loan báo Tin Mừng.

Đỉnh cao của tình yêu sẽ là sự từ bỏ. Chúng ta phải để cho những người chúng ta yêu mến được tự do; phải để cho họ phát triển chính con người của họ. Tình yêu của tôi đối với người khác có đem lại cho họ tự do để họ có một lối sống riêng và để cho tôi được tự do thi hành sứ vụ của Dòng không? Chẳng hạn, tình yêu mà tôi dành cho một phụ nữ có giúp người ấy trưởng thành trong tình yêu dành cho người chồng, hay là tôi đang cột trói cuộc đời của người ấy với cuộc đời của tôi và làm cho người ấy bị lệ thuộc? Sự từ bỏ này, tuy rất đau đớn nhưng có tính giải thoát, mời gọi chúng ta hãy trở thành thứ yếu đối với cuộc sống của những người chúng ta yêu mến. Chúng ta phải nhận ra rằng, chúng ta không còn là trọng tâm cuộc đời của họ, nhờ đó họ có thể quên chúng ta mà được tự do, tự do đối với người khác và tự do đối với Thiên Chúa. Đây quả là điều nan giải nhất trong muôn vàn điều nan giải, nhưng tôi tin chắc rằng, sự từ bỏ có khả năng đem lại cho chúng ta niềm hân hoan hơn bao giờ hết. Chính lúc cạnh sườn của chúng ta mở toang ra, thì dòng nước phát sinh sự sống mới tuôn trào.

Một trong những ví dụ tuyệt vời trong truyền thống Dòng chúng ta hẳn là tình yêu giữa chân phước Jordan Saxony, nguyên bề trên tổng quyền kế nhiệm Thánh Đaminh với một nữ đan sĩ Đaminh là chân phước Diana Andalo. Rõ ràng là họ yêu thương nhau thắm thiết. Có bao nhiêu vị bề trên tổng quyền viết được những lời cởi mở như thế với một phụ nữ? “Dù làm việc hay nghỉ ngơi, dù sum vầy hay xa cách, cha không phải là của con sao? Và cha vẫn không ở với con đó sao?”.[18] Và hiển nhiên là người nữ đan sĩ đã dạy cho anh Jordan rất nhiều để biết yêu mến như thế nào. Nhưng trong thư từ, anh Jordan luôn trao phó chị cho Chúa. Anh Jordan là bạn của Đức Lang quân, anh có nhiệm vụ dẫn đưa tân nương đến với Đức Lang quân: “Hãy luôn nghĩ về Người”. “Điều còn thiếu đối với con đó là cha không thể ở bên con, hãy bù lại bằng cách kết thân với một người bạn tốt hơn, đó là Đức Lang quân Giêsu Kitô của con, Đấng mà con hằng liên lỉ kết hiệp với Người trong tinh thần và chân lý; Người sẽ nói với con ngọt ngào hơn và dẫn đưa con đến cùng đích tuyệt vời hơn là Jordan này”.[19]

Theo một nghĩa nào đó, chúng ta còn phải từ bỏ cả gia đình nữa. Chúng ta được quyền yêu mến họ và vui sướng trong tình yêu họ dành cho chúng ta, thế nhưng, vì tuyên khấn trong Dòng, nên chúng ta phải được tự do đi bất cứ nơi nào sứ vụ của Dòng cần đến, ngay cả khi phải thi hành sứ vụ ở xa tổ ấm gia đình. Đó là một khía cạnh của đức thanh bần. Giờ đây, tài sản trước hết của chúng ta là Dòng và việc thuyết giảng Phúc âm.

3. Phái tính: thân thể và sự ham muốn

a/. Một lý tưởng không thể đạt được?

Đây là một lý tưởng tuyệt vời, nhưng hình như xa vời đến mức không thể đạt được. Khi chúng ta phải đấu tranh với những ham muốn nhục dục, với những tưởng tượng và tính chiếm hữu, thì dường như tình bằng hữu vô vị lợi vượt ra khỏi tầm tay của chúng ta. Phương tiện thông tin ngày ngày rỉ tai chúng ta rằng, lý tưởng này “không thực tế”. Thế nhưng, Thiên Chúa không biến đổi nhân loại bằng cách mời gọi chúng ta cố gắng leo lên trời. Sự sống thần linh hạ cố đến nơi chúng ta đang ở, đó là huyết nhục. Đức Giêsu bảo ông Giakêu xuống khỏi cây và gặp Người trên mặt đất. Ngôi Lời đã trở thành xác phàm và chính Người mang lấy những ước muốn, đam mê, và bản năng phái tính của chúng ta. Nếu chúng ta muốn gặp Người hầu được chữa lành, thì chúng ta cũng phải hội nhập vào thân thể của mình, với tất cả những đam mê, những thương tích và khao khát.

Chúng ta khởi đi từ câu hỏi: chúng ta là ai và chúng ta là gì? Khi mặc tu phục, chúng ta mang đến cho Dòng một người anh em, người này là thành quả của lịch sử và mang những vết thương của lịch sử. Đây là người anh em mà Chúa đã kêu gọi, chứ không phải một con người lý tưởng nào đó. Chúng ta bước vào Dòng với những vết sẹo của kinh nghiệm quá khứ, có thể đó là những ký ức về những thất bại trong tình yêu, về những thói xấu, về phái tính, những ký ức đó chưa được chữa lành. Gia đình dạy chúng ta yêu thương; nhưng họ cũng có thể gây cho chúng ta ít nhiều thương tích và cần phải có thời gian để chữa lành. Để trưởng thành trong tình yêu như Chúa Kitô, cần phải có thời gian, và thời gian đã được trao ban cho chúng ta. Đó là một hồng ân, Thiên Chúa luôn luôn ban tặng hồng ân của Người theo dòng thời gian. Người đã mất nhiều thế kỷ để đào luyện dân Người, chuẩn bị một nẻo đường cho Con của Người hạ sinh. Thiên Chúa luôn kiên trì ban cho chúng ta sự sống, chứ Người không ban ngay lập tức. Nếu muốn đón nhận những hồng ân của Thiên Chúa, chúng ta phải chấp nhận cách thức Chúa ban tặng, “Thầy ban tặng anh em không theo kiểu thế gian” (Ga 14: 27). Có lẽ việc đón nhận hồng ân thời gian trở nên đặc biệt quan trọng trong thế gới ngày nay. Trong xã hội này, tuổi thanh xuân được kéo dài, và mãi khi gần về già thì hầu hết chúng ta mới đạt tới sự trưởng thành. Chúng ta phải bắt đầu với những ham muốn, những khao khát, và thân thể của chúng ta. Chúng ta không phải là thiên thần, cũng không phải là thú vật, nhưng là tạo vật có máu huyết và thần trí, được tiền định hướng về thiên quốc. Nhưng, như Pascal đã nói, nếu chúng ta lầm tưởng mình là thiên thần, thì chúng ta sẽ trở thành thú vật.

b/. Sự ham muốn

“Ta sẽ lấy khỏi các ngươi trái tim bằng đá và sẽ ban tặng các ngươi một trái tim bằng thịt” (Ed 36:26). Trái tim của chúng ta chỉ trở thành trái tim bằng thịt, khi chúng ta dám để cho những ham muốn của mình được biến đổi.

Những ham muốn nào đang chi phối tâm hồn tôi? Đâu là những ham muốn tôi có thể che giấu người khác và che giấu chính mình? “Quả thực, không ai trong chúng ta tự cho mình có đủ sáng suốt để biết chắc rằng tâm hồn mình hướng về nơi nao?”.[20] Nếu chúng ta không thành thật xem xét những ham muốn và biết cách ham muốn cho chính đáng, thì những ham muốn đó sẽ điều khiển chúng ta và biến chúng ta thành tù nhân. Điều này cực kỳ khó khăn trong một xã hội chủ trương khai thác ham muốn của con người. Xã hội chúng ta đang hấp hối không phải vì thiếu lương thực nhưng vì ham muốn thái quá. Mọi tiết mục quảng cáo đều cổ võ chúng ta hãy muốn thêm nữa, khôn cùng, vô tận. Thế giới đang tàn lụi bởi những ham muốn thác loạn và vô độ, những ham muốn đó cũng có thể làm cho chúng ta tiêu tan. Ham muốn tính dục lăng loàn chỉ là triệu chứng của một phương thức giáo dục, phương thức này làm làm cho chúng ta coi cuộc đời chỉ là chốn thu vén và tiêu thụ.

Trước hết, thứ tình yêu mang tính chất của tình bằng hữu mời gọi chúng ta quan tâm đến người khác mà không tìm cách chiếm đoạt họ. Chúng ta cảm thấy hạnh phúc nơi họ mà không tìm quyền chiếm hữu. Thật khó mà đạt được sự tự do nội tâm này nếu chúng ta vẫn còn bị quyến rũ bởi nền văn hóa thị trường, trong đó, mọi thứ được bày ra nhằm thủ đắc và sử dụng, ngay cả đối với con người. Vì thế, tình bằng hữu chân chính đòi buộc chúng ta phải đoạn tuyệt với nền văn hóa mang tính thống trị của thời đại này. Chúng ta phải biết xem xét một cách trung thực và trong sáng, tránh những cái nhìn như muốn ăn tươi nuốt sống người khác. Thánh Thomas viết “Ubi amor, ibi oculus”- “Tình yêu ở đâu, con mắt ở đó”.[21] Thánh nhân nói rằng, khi ham muốn, chúng ta nhìn người khác phái giống như con sư tử nhìn thấy con nai là chỉ chực nuốt sống con mồi. Vì thế, tình yêu phải gắn liền với tâm hồn nghèo khó đích thực. William Blake đã đặt vấn đề: “Tình yêu mà lại muốn nuốt chửng người khác như miếng bọt biển thấm nước thì có thể gọi là tình yêu được không?”.[22]

Như vậy, việc chữa lành ham muốn bao hàm một cách thức hiện diện khác trong thế giới, đó là đức thanh bần đích thực. Và khiết tịnh sẽ là dấu chỉ của cái gì đây nếu chúng ta vẫn cứ muốn thu vén bằng những cách khác? Anh Don Goergen, O.P. đã viết: “Nếu tôi thông đồng với xã hội tiêu thụ, bênh vực chủ nghĩa tư bản, bao che cho tính cao ngạo của cánh mày râu, tin xã hội Tây phương trổi vượt hơn những xã hội khác, trong khi đó tôi vẫn sống khiết tịnh, thì tôi chỉ làm chứng rằng, chúng ta ủng hộ chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa tình dục, tính cao ngạo của Tây phương và đồng thời cũng ủng hộ cả sự khiết tịnh. Lối sống khiết tịnh như vậy khó có thể có ý nghĩa sâu xa và đương nhiên phải đặt lại vấn đề”.[23]

Chúng ta cũng cần phải xem xét thấu đáo bản năng phái tính và giải phóng mình khỏi huyền thoại về tính dục của xã hội đương thời. Phải giải trừ huyền thoại phái tính. Một đàng, quan hệ phái tính thường được coi là tột đỉnh của khát vọng thông hiệp và là lối thoát duy nhất để trốn chạy cô đơn.  Nó đã từng được gọi là dấu chỉ còn lại sau cùng của sự siêu việt, là dấu chỉ duy nhất cho thấy chúng ta sống cho nhau, thậm chí là sống với mọi người. Vì thế, sống mà không có quan hệ phái tính thì quả là sống dở chết dở. Đàng khác, tính dục lại bị rẻ rúng. Gần đây, một quý bà người Anh đã tuyên bố rằng, quan hệ phái tính cũng chỉ như việc dùng một tách trà. Chính sự trộn lẫn việc thần thánh hóa với việc xem nhẹ bản năng phái tính này làm cho đời sống độc thân gặp nhiều khó khăn. Cả hai thái cực trên đều bảo rằng, chúng ta cần phải có quan hệ phái tính, đó là quyền sử dụng của chúng ta, mà không cần phải suy xét gì. Việc tái giáo dục nội tâm con người đòi hỏi chúng ta phải có cái nhìn thấu đáo về bản năng phái tính. Quả thực, nó là một dấu chỉ tuyệt vời diễn tả sự thông hiệp với người khác, là món quà cho chính bản thân, bởi vậy không bao giờ được hạ thấp nó. Tuy nhiên, vẫn có những cách khác giúp chúng ta có thể yêu thương trọn vẹn và sung mãn, và vì thế không có quan hệ phái tính sẽ không đầy ải chúng ta đến chỗ cách biệt và cô đơn.

Sau hết, đối diện với những ham muốn khôn nguôi của trần gian, chúng ta được mời gọi không phải để dồn nén, nhưng để khao khát nhiều hơn nữa. Chúng ta là những con người có đam mê, mà một khi tiêu diệt đam mê, con người sẽ trở nên cằn cỗi và tê liệt. Nó làm cho chúng ta trở thành những nhà giảng thuyết cái chết. Thay vào đó, chúng ta phải được tự do đi vào những ham muốn sâu xa hơn nữa, ham muốn thiện hảo vô biên của Thiên Chúa. Như anh Oshida, một tu sĩ Đaminh Nhật Bản đã nói, chúng tôi nài xin Thiên Chúa làm cho chính Người trở nên hấp dẫn vô cùng mãnh liệt. Những ham muốn của chúng ta có thể trệch hướng không phải vì chúng ta đòi hỏi quá nhiều, nhưng vì chúng ta đã mong đợi quá ít, chỉ mong đợi những thỏa mãn vụn vặt. “Đối với chúng ta, lý tưởng không phải là kiểm soát mọi dục vọng, nhưng là cho phép chúng lớn mạnh trong khát vọng khôn nguôi hướng về Thiên Chúa”.[24] Dọc theo các đường lộ, những bảng quảng cáo kêu gọi con người chống đối lẫn nhau, chà đạp lên nhau trong sự cạnh tranh nhằm lấp đầy những ham muốn khôn cùng; còn Thiên Chúa thì tự do ban cho chúng ta được thoả mãn những ham muốn vô tận như một hồng ân. Chúng ta hãy có những ham muốn sâu xa hơn nữa.

Để đạt tới sự biến đổi nơi những ham muốn này, chắn chắn cần có một vài khổ chế. Đây là một kết luận mà bấy lâu nay tôi từng phản đối! Cha Đaminh hẳn đã đạt đến tầm mức của một con người tự do, thanh thoát, và có tâm hồn thư thái, một phần vì cha là người điều độ và kiêng khem. Dù có dự tiệc với anh em, cha vẫn giữ chay. Lối sống khổ chế ở đây không phải là chối bỏ thế giới thụ tạo như những người thuộc phái Manichaeism, nhưng dạy chúng ta khám phá ra khoái lạc đích thực. “Không phải là chuyện loại bỏ chính những ham muốn - làm như vậy là bất nhân - nhưng là loại bỏ tính thô bạo của những ham muốn đó, là phải chết đi cho tính thô bạo của khoái lạc, chết đi cho quyền năng vô biên của nó”.[25] Sự điều độ sẽ định chuẩn mực cho những thèm khát đối nghịch với những nhu cầu đích thực của thân thể, và vì thế nó cứu chúng ta thoát khỏi những ảo tưởng huyền hoặc và sự bạo ngược của ham muốn.

c/. Thân thể

Tôi chỉ có thể đạt được mối quan hệ trưởng thành về bản năng phái tính nếu tôi biết đón nhận, thậm chí biết vui sống trong thân thể phàm trần của tôi và của tha nhân. Đây là thân thể tôi cưu mang và sở hữu, lớn lên, mập ra, rụng tóc, và hiển nhiên là sẽ phải chết. Tôi phải bình thản với thân thể của người khác, dù đẹp hay xấu, đau ốm hay mạnh khoẻ, già hay trẻ, nam hay nữ. Thánh Đaminh đã lập Dòng để cứu con người khỏi thảm trạng của tôn giáo nhị nguyên, một tôn giáo qui kết thế giới thụ tạo này là xấu xa. Ngay từ đầu, trọng tâm truyền thống của Dòng chúng ta là đề cao thực tại thân thể. Chính tại nơi đây, Thiên Chúa đã đến gặp gỡ và cứu chuộc chúng ta, trở nên một con người mang huyết nhục như chúng ta. Bí tích trung tâm của đạo chúng ta là việc chia sẻ Thân mình Người; niềm hy vọng sau cùng của chúng ta là thân thể được phục sinh. Khấn khiết tịnh không phải là trốn chạy sự hiện hữu của thân thể. Nếu Thiên Chúa đã trở thành huyết nhục thì chúng ta cũng phải dám trở nên như thế.

Chúng ta khám phá ra ý nghĩa thân thể chúng ta ở đỉnh cao cuộc đời Đức Giêsu, khi Người trao ban thân thể của Người cho chúng ta: “Đây là mình Thầy, hy sinh vì anh em”. Ở đây chúng ta nhận ra thân thể không chỉ là một khối thịt, một túi các cơ bắp, máu và mỡ. Bí tích Thánh Thể tỏ cho chúng ta thấy ơn gọi của thân thể con người: đó là để trở nên tặng vật cho nhau, và có khả năng thông hiệp.

Nỗi đau lớn nhất của đời sống độc thân là do chúng ta từ bỏ những giây phút khoái cảm khi hai thân thể được trao tặng hết cho nhau. Ở đây, căn tính sâu xa của thân thể không phải là một khối thịt nhưng là một dấu chỉ của sự hiện diện. Hành vi phái tính này, diễn tả và nhục thể hóa khát vọng sâu xa của chúng ta là muốn chia sẻ sự sống. Đó là lý do tại sao lại gọi Bí tích Thánh Thể là dấu chỉ sự hiệp nhất giữa Chúa Kitô và Hội thánh. Trong thân thể hữu hình, người tu sĩ chúng ta cũng có thể làm cho Chúa Kitô hiện diện theo cách của mình. Người thuyết giáo giảng giải Lời Chúa không chỉ bằng lời nói, nhưng bằng tất cả con người. Lòng trắc ẩn của Thiên Chúa trở nên máu thịt trong chúng ta, trong tính cách dịu dàng và cả trên khuôn mặt của chúng ta.

Trong Cựu ước, chúng ta thường thấy có lời nguyện xin cho thánh nhan Chúa chiếu giãi trên chúng ta. Lời nguyện này cuối cùng đã được đáp trả nơi hình dạng khuôn mặt con người, đó là khuôn mặt Đức Kitô. Người nhìn anh thanh niên giàu có, yêu mến anh, mời gọi anh bước theo Người; Người nhìn ông Phêrô trong sân nhà vị Thượng tế sau khi ông chối Người; Người nhìn chị Maria Magdalene trong vườn và gọi đích danh chị. Là những người giảng thuyết, là phàm nhân, chúng ta có thể dùng thân thể để diễn tả cái nhìn chạnh thương của Thiên Chúa. Chúng ta không được loại bỏ thực tại thân thể ra khỏi ơn gọi của mình. “Trong gian khổ và có lẽ trong từng bước tiến cam go, một con người vừa là nhà giảng thuyết vừa là người anh em có thể học biết đâu là ý nghĩa của việc thể hiện khuôn mặt Thiên Chúa nơi chính khuôn mặt của mình, một khuôn mặt có thể mỉm cười, bông đùa, khóc thương và chán chường... Chính trong tất cả tính độc đáo và tính cá biệt của chúng ta, những thứ có giá trị vĩnh hằng và Thiên Chúa mong muốn đó mà chúng ta mặc khải, tỏ lộ và diễn tả Đấng là Ngôi Lời Duy nhất phát xuất từ chốn tĩnh tịch của Thiên Chúa từ thuở đời đời”.[26]

Tâm hồn khiết tịnh đích thực không xa lánh những uế tạp của trần gian này. Quan trọng hơn, đó là hiện diện trọn vẹn bằng cả con người lẫn công việc của chúng ta, dùng khuôn mặt và thân thể để diễn tả chính mình, không lừa dối hoặc trí trá. Những người có tâm hồn thanh sạch không nhất thiết cứ phải che giấu đàng sau những khuôn mặt luôn cảnh giác dòm chừng. Khuôn mặt của người có tâm hồn khiết tịnh luôn trong sáng, không mang mặt nạ, trần trụi và có thể bị thương tích vì Đức Kitô. Họ đạt được sự tự do và thanh thoát của Người. “Chỉ những ai có tâm hồn khiết tịnh mới có thể vui đùa trong tự do, một thứ tự do đem lại sự giải thoát cho người khác”.[27]

d/. Khả  năng sinh sản

Có lẽ điều tôi cảm thấy mất mát nhất, hơn bất cứ điều gì khác, là không có con cái. Vốn là đàn ông mà tôi còn nghĩ như thế, phương chi đối với một phụ nữ không được làm mẹ? Đây là một ước muốn nền tảng mà chúng ta phải công nhận. Tuy nhiên, nếu đời sống tông đồ của chúng ta ngụp lặn trong tình yêu phong phú của Thiên Chúa dành cho nhân loại, thì chúng ta sẽ sinh hoa kết trái. Tôn sư Eckhart nói rằng, tình yêu Thiên Chúa trong chúng ta luôn xanh tươi và màu mỡ. Hiện diện trong chúng ta, Thiên Chúa “khác nào lùm cây xanh tươi đang trổ bông trong hân hoan và vinh quang như khi Người hiện diện trong chính mình”.[28] “Mục đích tối thượng của Thiên Chúa là sản sinh. Người chỉ hài lòng khy sinh hạ Ngôi Con nơi chúng ta. Cũng thế, linh hồn sẽ không bao giờ hết khắc khoải cho tới khi Ngôi Con được sinh ra nơi linh hồn”.[29]

Điều này phụ thuộc vào tình yêu giữa chúng ta với các anh chị em mà chúng ta phải giúp nhau sinh hoa kết trái. Đời sống tông đồ không chỉ là đầu tắt mặt tối với những công việc bất tận. Nếu việc tông đồ của chúng ta sinh động nhờ sự sung mãn của sự sống Thiên Chúa, chúng ta sẽ dự phần vào công cuộc sáng tạo của Người.

Tuy nhiên, làm cha mẹ là phải vượt qua cả niềm vui lẫn nỗi buồn khi phải để cho con cái ra đi. Tuyệt đích của bậc làm cha mẹ là trao tặng cho con cái mình sự tự do, và để cho chúng xây dựng cuộc sống khác với những gì chúng ta mong đợi cho chúng.  Cũng thế, chúng ta phải để cho những gì chúng ta đã sinh ra được tự do. Chúng ta biết rằng, chúng ta thực sự sinh hoa trái khi những dự án do chúng ta khởi xướng, và đã dày công vun đắp, thì nay lại vụt bay theo những hướng đi mới, và rơi vào vòng tay của người khác. Điều này là khó, nhưng lòng quảng đại của cha mẹ là để trao tặng tự do cho con cái của mình.

4. Làm thế nào để nâng đỡ lẫn nhau?

Nếu chúng ta để cho tình yêu Thiên Chúa đụng chạm đến, dần dần chúng ta sẽ trở nên sinh động. Thà rằng chết, không bị tổn thương, không ai đụng đến, xem ra có vẻ an toàn hơn. Nhưng phải chăng là thế? “Thiên nhiên vốn kỵ khoảng trống. Những điều tồi tệ nhất có thể xảy ra với người có trái tim trống rỗng. Nếu cực chẳng đã, thà liều gây ra một vài gương xấu còn hơn là duy trì một tu viện có cung nguyện, phòng ăn và phòng sinh hoạt chung nhưng trong đó đầy những xác chết. Chúa chúng ta đã không nói: “Tôi đến để anh em được an toàn và an toàn hơn”. Quả thực, có những anh em sẵn sàng làm bất cứ điều gì miễn là cảm thấy an toàn cho cuộc sống của mình cả ở đời này lẫn đời sau, nhưng chúng ta không thể bắt cá hai tay: an toàn hay sự sống, chúng ta buộc phải chọn một”.[30] Nếu chọn sự sống, chúng ta sẽ cần đến cộng đoàn làm hậu thuẫn bởi vì chúng ta đến để sống, cộng đoàn sẽ giúp chúng ta lớn lên trong tình yêu thánh thiện đích thực, đó là thông chia sức sống tuôn trào từ nguồn mạch Lời Chúa.

a/. Những cộng đoàn hi vọng

Trên tất cả, chúng ta phải trao cho nhau niềm hy vọng và lòng thương xót. Thông thường, chúng ta bị thu hút đến với Dòng là vì chúng ta kính phục các tu sĩ. Chúng ta  hy vọng sẽ trở nên giống như họ. Chẳng bao lâu sau, chúng ta nhận ra rằng, kỳ thực, họ cũng giống như chúng ta: mỏng dòn, tội lỗi và ích kỷ. Việc này có thể khiến người ta vỡ mộng. Một tập sinh than phiền với tôi về khám phá đáng buồn này. Vị giám sư trả lời anh ta: “Tôi rất vui khi nghe biết anh không còn ngưỡng mộ chúng tôi nữa. Vậy thì bây giờ là dịp thuận tiện để anh có thể yêu quý chúng tôi”. Thiên Chúa yêu thương không tỏ bày mầu nhiệm cứu chuộc cho một cộng đoàn gồm những bậc anh hùng thánh thiêng, nhưng gồm những anh em hoặc chị em cùng khích lệ nhau cất bước trên hành trình tiến về Nước Trời với niềm hy vọng và lòng thương xót. Chúa Phục sinh hiện ra giữa cộng đoàn gồm những con người nhát đảm và yếu hèn. Muốn gặp Chúa, chúng ta phải dám ở đó với họ. Anh Jordan Saxony viết cho các anh em ở Pháp, vốn là những con người hoàn toàn giống như chúng ta: “Chúa Giêsu sẽ không thể nào hiện ra với những người tự tách mình khỏi mối dây hiệp nhất của tình huynh đệ: vì ông Thomas đã không có mặt cùng các tông đồ khi Chúa Giêsu hiện ra, nên đã không được gặp Người; anh em có tự nghĩ mình thánh thiện hơn ông Thomas không?”.[31]

Nhất là, chúng ta sẽ cần đến cộng đoàn khi chúng ta thất bại trong tình yêu. Chúng ta có thể thất bại bởi vì chúng ta cảm thấy mình cằn cỗi, không còn khả năng yêu thương nữa, khi trái tim bằng thịt của chúng ta bị thay thế bằng trái tim bằng đá. Lúc đó, chúng ta cần anh em giúp chúng ta tin rằng:

“Cho dù sa đọa tới đâu,

Cho dù phụ bạc, mọt sâu một đời,

Từ trong sâu thẳm cái tôi,

Vẫn còn hạt giống tình yêu tuyệt vời”.[32]

Cộng đoàn không phải là nơi kết tội, bởi vì “kẻ kết tội anh em mình đã bị loại ra ngoài” (Kh 12:10). Chúng ta có thể phạm tội và cảm thấy mình đã đánh mất ơn gọi, và đành phải bỏ Dòng trong sự nhục nhã. Vậy thì anh em, chị em phải giúp chúng ta tin vào lòng thương xót của Thiên Chúa khi chúng ta cảm thấy tự chúng ta không thể tin được. Nếu Thiên Chúa có thể làm cho một cây khô héo ở đồi Golgotha nở hoa, thì Người cũng có thể làm phát sinh hoa trái từ lỗi lầm của chúng ta. Khi bản thân chúng ta không còn tin tưởng gì nữa, chúng ta cần có anh em giúp chúng ta xác tín rằng, thất bại chưa phải là kết cuộc, và nơi sự phong phú vô biên của Thiên Chúa, Người có thể làm cho thất bại góp phần vào hành trình nên thánh của chúng ta. Ngay cả tội lỗi của chúng ta cũng có thể là một phần trong những thử nghiệm dò dẫm để yêu thương. Toàn bộ những năm tháng rong chơi hư hỏng của thánh Augustin có lẽ đã giúp thánh nhân nỗ lực tìm kiếm một Đấng đáng được yêu mến hết lòng, và như thế khiết tịnh không phải là chấm dứt nhưng là tuyệt đích của ham muốn của thánh Augustin.

b/. Cộng đoàn và khuynh hướng phái tính

Chính trong vấn đề phái tính mà chúng ta có thể thấy rất rõ sự khác biệt về văn hóa. Cần phải có sự tế nhị khéo léo nếu chúng ta muốn tránh gây gương mù hoặc thương tổn cho anh chị em của mình. Trong một số nền văn hóa, việc đón nhận những người có khuynh hướng đồng giới luyến ái vào đời sống tu trì là điều hầu như không thể nghĩ đến. Trong bối cảnh văn hóa khác, người ta lại chấp nhận mà không nghi  ngại gì cả. Tất cả những bài viết về đề tài này, hầu như đều có ý thăm dò xem người ta “ủng hộ” hay “phản đối” chuyện đồng giới luyến ái. Đây là một vấn nạn sai lầm. Nói Thiên Chúa gọi hay không gọi ai đó đi tu không phải việc của chúng ta. Tổng hội Caleruega đã khẳng định rằng cũng một đòi hỏi về đức khiết tịnh được áp dụng cho tất cả mọi anh em dù họ có khuynh hướng phái tính nào đi nữa, và như thế, trên hành tinh này không ai có thể bị loại trừ. Đã có nhiều cuộc tranh luận tại Caleruega xoay quanh vấn nạn này, và tôi chắc rằng cuộc tranh luận sẽ còn tiếp diễn.

Làm thế nào để cộng đoàn có thể nâng đỡ và hỗ trợ anh em khi họ đối diện với khuynh hướng phái tính của mình? Trước hết, phải nhìn nhận rằng, điều này đụng chạm sâu xa đến cảm thức về căn tính của chúng ta. Vì thế, đây là một câu hỏi nhạy cảm và quan trọng đối với nhiều người trẻ gia nhập Dòng, vì hai lý do. Thứ nhất, thường người ta mang trong mình nỗi khao khát để nhận diện căn tính. Đối với nhiều bạn trẻ thì câu hỏi quan trọng này là: “Tôi là ai?” Thứ hai, bởi vì thời thanh niên kéo dài là đặc trưng của nhiều nền văn hóa ngày nay, nên vấn đề khuynh hướng phái tính thường chỉ được giải quyết quá muộn. Thỉnh thoảng, chúng tôi nhận được đơn xin tháo lời khấn chỉ vì mãi đến cuối đời anh em mới nhận ra rằng cơ bản họ là những người dị giới luyến ái, và như thế họ có thể kết hôn được.

Nếu có anh em nào tin rằng mình là người đồng giới luyến ái, thì điều quan trọng là anh ta biết anh ta được chấp nhận và được yêu mến. Anh ta có thể sống trong lo sợ bị từ chối và bị kết tội. Tuy nhiên, sự chấp nhận này là miếng bánh trên hành trình khám phá ra căn tính sâu xa của mình, căn tính đó là con cái Thiên Chúa. Bởi vì không ai trong chúng ta, dù dị giới hay đồng giới luyến ái có thể khám phá ra những căn tính sâu xa nhất trong khuynh hướng phái tính của mình. Trong Chúa Kitô, chúng ta phải khám phá ra rằng chúng ta đích thực là ai. “Hỡi các con yêu dấu, bây giờ chúng ta là con cái Thiên Chúa; chúng ta không biết được điều gì sẽ xảy ra, nhưng chúng ta biết rằng, khi Người xuất hiện chúng ta sẽ nên giống Người, vì Người thế nào chúng ta sẽ thấy Người như vậy” (1Ga 3:2). Bằng lời khấn, chúng ta dấn thân để bước theo Chúa Kitô và để khám phá ra căn tính của mình trong Người. Khó nghèo có nghĩa là chúng ta phải vượt lên trên những căn tính nhỏ bé này. “Tự cội nguồn mọi sự chiếm hữu khác là nỗi khao khát chiếm hữu chính cái tôi: để ở đáy lòng tôi sẽ không phải là một vực thẳm vô định, một khoảng không mà một Vì Thiên Chúa vô danh  nào đó đương nhiên ngự trị - nhưng là một căn tính mà tôi có thể làm chủ, một căn tính được xác định bởi quyền sở hữu của tôi”.[33]  Bất kỳ anh em nào coi khuynh hướng phái tính như trọng tâm đối với vai trò xã hội của mình sẽ không nhận ra  bản chất sâu xa của chính mình. Anh ta có thể dừng chân bên vệ đường khi anh ta được mời gọi lên Jerusalem. Điều cơ bản là chúng ta có thể yêu mến và như thế chúng ta là con cái Thiên Chúa, chứ không phải chúng ta bị quyết rũ về tình dục. Thế nhưng điều đó không chỉ liên quan đến cảm thức cá nhân về căn tính. Chúng ta có chung một căn tính, đó là chúng ta là anh em và chị em với nhau. Chúng ta có trách nhiệm đối với những hệ lụy của anh em về cách thức chúng ta hiện diện, đặc biệt là trong những lãnh vực tế nhị như khuynh hướng phái tính.

Vì thế, chúng ta phải đón nhận mọi anh em dù họ thế nào đi chăng nữa. Nhưng, việc xuất hiện những nhóm nhỏ trong cộng đoàn, dựa trên khuynh hướng phái tính, có thể gây chia rẽ trầm trọng. Nó đe dọa sự hiệp nhất của cộng đoàn; và có thể làm cho anh em cảm thấy khó thực hành đức khiết tịnh mà anh em đã tuyên khấn. Nó có thể gây áp lực khiến anh em nghĩ về mình không đúng với ơn gọi như là những nhà giảng thuyết về Nước Trời, và có lẽ mãi sau này anh em mới khám phá ra điều đó là sai lầm.

c/. Yêu đương

Tuy chúng ta có nói nhiều về tình bằng hữu như là một mặc khải tối thượng về tình yêu, tức là sự sống của Thiên Chúa, nhưng chúng ta vẫn có thể rơi vào chuyện yêu đương, và đây có thể là một trong những kinh nghiệm ý nghĩa nhất trong cuộc đời của chúng ta. Sau khi tôi đắc cử bề trên tổng quyền, trong một cuộc gặp gỡ đông đảo các sinh viên Đaminh ở Philippines, anh em công khai hỏi tôi: “Timothy, anh đã yêu bao giờ chưa?”. Và câu hỏi thứ hai là: “Vậy thì anh đã yêu trước hay sau khi vào Dòng?”. Nếu điều này xảy ra sau khi vào Dòng, thì quả thực chúng ta cần sự nâng đỡ và tình thương của cộng đoàn.

Đối với những anh chị đã khấn dòng, yêu đương hầu như chắc chắn sẽ đem đến khủng hoảng. Nhưng, như anh Jean-Jacques Pérennès thường nhắc chúng tôi trong cuộc họp ban Tổng cố vấn, thì khủng hoảng lại là một cơ may. Nó có thể đem lại hoa trái. Bất kỳ môt kinh nghiệm nào về tình yêu cũng có thể là một cuộc gặp gỡ Thiên Chúa, Đấng là tình yêu. Rơi vào chuyện yêu đương có thể là cơ hội để phá vỡ não trạng tự cho mình là trung tâm, và khi ấy chúng ta mới khám phá ra rằng, chúng ta không phải là cái rốn của vũ trụ. Chí ít trong khoảnh khắc nào đó, sự khám phá này có thể phá hủy tính ích kỷ vốn có thể giết chết chúng ta. Yêu đương, “đối với nhiều người, là một kinh nghiệm sống hết sức kỳ diệu, đầy tính khám phá, từ đó, cốt lõi của ý nghĩa thình lình bị lột ra khỏi cái tôi, và cái tôi ảo mộng bị hất tung để rồi nhận ra  một thực tại hoàn toàn tách biệt”.[34]

Một khi đã đi qua hành trình tự lột bỏ thâm sâu này, chúng ta sẽ không thể tiếp tục sống như không có chuyện gì xảy ra. Chúng ta không thể giả vờ cho rằng mình chưa bao giờ gặp con người này, rằng mình có thể quay về đời sống trước kia như không có gì xảy ra. Và điều này có thể là lý do khiến một anh em khi rơi vào chuyện yêu đương, anh ta có thể xin tháo lời khấn, bởi vì đời sống trước đây mà chính anh ta tự cam kết nay không còn nữa.

Ông Thomas Merton, một đan sĩ Xitô người Mỹ, khi đã đạt đến đỉnh cao của một văn sĩ tâm linh, thì lại yêu mê mệt một nữ y tá đã từng săn sóc ông ở bệnh viện. Ghi lại trong nhật ký, ông cảm thấy “bị dằn vặt khi dần dần nhận ra rằng, chúng tôi đã yêu nhau, và tôi không biết tôi sẽ sống thế nào nếu thiếu vắng nàng”.[35] Đối mặt với cái chết của người yêu là Desdemona, đến như nhân vật Othello cũng phải thốt lên: nàng “là nơi tôi gửi gấm trái tim, là chỗ tôi sống hay  chết, là dòng thác tuôn trào sức sống cho tôi, nếu không, đời tôi sẽ khô cằn”.

Chúng ta không thể tưởng tượng ra một sự sống tách rời khỏi con người mà chúng ta yêu mến, vì thế phải cầu nguyện cho tặng vật sự sống mà chúng ta không thể nghĩ ra được, sự sống ấy chỉ có thể đến từ Thiên Chúa như một món quà. Trên Thập giá, Đức Giêsu không mong đợi cuộc sống tưởng tượng, một cuộc sống phi thường và sung mãn mà Chúa Cha đã trao ban cho Người. Chúng ta không thể tạo ra sự sống. Sự sống được trao ban cho chúng ta.

Lúc này, chúng ta thật khó mà phó thác vào Thiên Chúa, đồng thời xác tín rằng cái chết này sẽ dẫn đến Phục sinh. Hơn bao giờ hết, chúng ta phải cần đến bạn hữu, anh em và chị em, những người có thể giúp chúng ta tin, trong khi chúng ta không còn tin được nữa, rằng trong sa mạc này chúng ta có thể gặp được Chúa của sự sống. Có lẽ chúng ta chưa bao giờ cảm thấy đầy sức sống, đầy nghị lực như vậy. Chúng ta có thể cảm thấy rằng, tình yêu này là tất cả những gì chúng ta đã tìm kiếm suốt cuộc đời mình. Lẽ nào chúng ta có thể liều mạng đánh mất nó? Chúng ta có thể trở nên khô cằn, cáu gắt và thất vọng! Lúc này đây, chúng ta phải tin rằng, nếu chúng ta trung thành với lời khấn thì Thiên Chúa cũng sẽ trung thành. Chúng ta sẽ nhận được sự sống sung mãn. Người viết tiểu sử Merton có nói rằng, sau cùng, kinh nghiệm yêu đương của Merton đã cho ông “sự giải thoát nội tâm, sự giải thoát này cho ông một nhận thức mới về sự an toàn, thảnh thơi, thoải mái trong ơn gọi và trong đáy lòng ông”.[36]

Có thể có người nghĩ rằng, tôi chủ trương một kinh nghiệm như thế là một bước tiến cần thiết cho hành trình phát triển tâm linh. Tôi không có ý muốn nói như vậy chút nào. “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình”. Là tu sĩ, chúng ta đoan nguyện lãnh nhận trọn vẹn sự sống trong huyền nhiệm của một tình bạn không chiếm hữu. Lại nữa, là linh mục và tu sĩ, khi rơi vào chuyện yêu đương, chúng ta có thể gây ra những thiệt hại khủng khiếp cho chính mình và cho người khác. Người khác nhìn thấy chúng ta có vẻ “an toàn” và chúng ta cũng nghĩ như thế. Chúng ta dễ dàng lạm dụng người khác bằng cách cho phép mình làm một chuyến “du lịch tình cảm", chuyến du lịch này cho chúng ta tự do trở về cộng đoàn khi chuyện trở nên nguy hiểm, nhưng lại có thể khiến cho người khác bị thiệt hại, làm cho niềm tin của họ đối với Hội thánh và ngay cả đối với Thiên Chúa sẽ mãi mãi bị xói mòn.

d/. Sa mạc cô đơn

Để trưởng thành trong tình yêu, có lúc chúng ta phải vượt qua sa mạc. Điều này xảy ra là vì chúng ta thấy mình không còn khả năng yêu mến, hoặc vì chúng ta đã ngã vào chuyện yêu đương, hoặc có thể vì chúng ta đã không giữ được lời khấn. Nếu đời sống tông đồ dẫn chúng ta vào cơn hoảng hốt ở vườn Gethsemane, nơi mà sự sống đã mất hết ý nghĩa, khi đó cuộc khủng hoảng trong tình yêu có thể bắt chúng ta phải đối đầu với sự cô đơn của Thập giá.

Kinh nghiệm về sự cô đơn mở ra chân lý nền tảng về chính chúng ta, đó là, chúng ta là người bất toàn. Đối nghịch với quan điểm rất phổ biến của phần đông xã hội Tây phương, chúng ta là những hữu thể không tự túc, không độc lập được. Cô đơn cho thấy tôi không thể tự sống động, không thể tự mình sống. Tôi chỉ có thể tồn tại nhờ có tương quan với tha nhân. Tôi đơn độc tức là tôi chết. Nỗi cô đơn này cho thấy khoảng không, sự trống rỗng nơi sâu thẳm cuộc sống của tôi. Chúng ta có thể bị cám dỗ lấp đầy sự trống rỗng đó bằng nhiều thứ: đồ ăn, thức uống, tình dục, quyền lực hoặc công việc. Tuy nhiên, sự trống rỗng vẫn còn đó. Thèm khát rượu bia hay bất cứ thứ gì đi nữa cũng chỉ là che giấu cơn khát Thượng Đế. Tôi không tin là chúng ta có thể lấp đầy sự trống rỗng đó bằng sự hiện diện của người khác. Căn phòng đầy những người cô đơn chẳng thay đổi được gì. “Điều khủng khiếp của sự cô đơn này tự nó chứng tỏ rằng chính trong lúc mọi người đều cảm thấy cô đơn, chẳng có ai giúp được gì”.[37] Khi Merton rơi vào đường tình, ông mới biết rằng, những gì ông đang tìm kiếm có lẽ không phải là chính người ông yêu mến, nhưng chỉ là cách lấp đầy sự trống rỗng nơi đáy lòng ông. Nàng là “người mà tôi sẽ cố gắng dùng tên của nàng như phép thần để đập tan sự kìm kẹp của nỗi cô đơn khủng khiếp trong lòng tôi”.[38]

Sau cùng, tôi không tin rằng chúng ta cứ mãi phải chịu đựng sự cô đơn này. Chúng ta phải sống sự cô đơn đó như một cách hội nhập vào nỗi cô đơn của Đức Kitô trong cái chết của Người. Sự cô đơn này đã cưu mang và biến đổi mọi nỗi cô đơn của nhân loại. “Cha ơi, Cha ơi, sao Cha nỡ bỏ con?”. Nếu chúng ta dám sống như vậy, thì bức màn trong đền thờ sẽ bị xé đôi ngay chính giữa, và chúng ta sẽ khám phá ra rằng, Thiên Chúa hiện diện trong tâm hồn chúng ta, ban ơn hiện hữu cho chúng ta trong từng khoảnh khắc. “Tu autem eras interior intimo meo”“Ngài ở gần con hơn con ở gần chính mình”.[39] Nếu chúng ta dám vác lấy Thập giá của cô đơn và lên đường, thì cô đơn sẽ cho thấy nhận thức của con người hiện đại về cái tôi là không đúng. Sự thật thâm sâu nhất về chính mình đó là chúng ta không đơn độc. Nơi thâm cung lòng tôi, Thiên Chúa hiện diện và không ngừng ban cho tôi một sức sống sung mãn. Trong cuốn Đối thoại, thánh Catarina viết, chị “ẩn náu trong căn phòng nhỏ của sự tự-biết-mình là để biết rõ hơn sự thiện hảo Thiên Chúa dành cho tôi”. Biết mình một cách sâu xa không bộc lộ cái tôi cô quạnh của con người hôm nay, nhưng cho thấy sự tồn tại của con người không thể tách rời khỏi Thiên Chúa, Đấng vẫn hằng ban sự sống cho chúng ta.

Nếu đi vào sa mạc cô đơn này và gặp Chúa ở đó, chúng ta sẽ trở nên tự do để yêu thương vô vị lợi, hào phóng mà không chiếm hữu, không thủ đoạn. Chúng ta sẽ không thể coi tha nhân như phương tiện đáp ứng những nhu cầu của mình, hoặc như một cách giải quyết nỗi cô đơn của mình, nhưng đơn giản là để vui sống bên nhau. “Vì thế, hãy đứng vững và đừng chao đảo trong trình trạng trống rỗng của bạn”. Chính ở dưới chân Thập giá, nơi Chúa Giêsu trao phó Thân mẫu cho người Tông đồ được Chúa thương yêu, và trao phó người Tông đồ cho Thân mẫu, đó là lúc cộng đoàn Hội thánh được sinh ra.

III. ĐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN

“Thầy đã gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy đã nghe nơi Cha, Thầy đều cho anh em biết” (Ga 15:15).

Người có đời sống phong phú sẽ yêu mến một cách vô vị lợi, hồn nhiên và vui vẻ. Trái tim bằng đá của họ sẽ trở thành trái tim bằng thịt. Theo truyền thống trong Dòng, sự biến đổi sâu xa này nơi con người bao hàm cả việc học hỏi lẫn cầu nguyện. Chân phước Jordan Saxony nói rằng cả hai đều cần thiết cho chúng ta như đồ ăn thức uống. Qua việc học, chúng ta tái tạo trái tim con người. Chúng ta khám phá ra rằng “ánh sáng trí tuệ sẽ dẫn tới  tình yêu”.[40] Học hỏi và cầu nguyện đều thuộc về đời sống chiêm niệm của mỗi tu sĩ Đaminh. Tôi xin chia sẻ đôi chút về việc cầu nguyện và về một đời sống toàn vẹn.

1. Cộng đoàn của Lời

Trong hầu hết các cuộc kinh lý, vào lúc kết thúc, vị kinh lý sẽ đưa ra một vài nhận xét có tính cách xây dựng về việc cần phải cầu nguyện nhiều hơn. Chúng ta sẽ khôn ngoan gật đầu đồng ý và đưa ra những điều dốc quyết mơ hồ. Chúng ta có cảm tưởng rằng vấn đề ở đây không phải là cầu nguyện máy móc mà là làm cho những con người khô khan yêu thích cầu nguyện.

Khi một đứa trẻ ra đời, lập tức cha mẹ bắt đầu chuyện trò với nó. Rất lâu trước khi nó có thể hiểu được, nó được nuôi dưỡng, tắm táp, dỗ dành bằng lời nói. Người cha người mẹ trò chuyện với đứa con không phải để trao đổi thông tin với nó. Họ dỗ dành để đưa nó vào cuộc đời. Nó trở thành con người trong biển cả ngôn ngữ này. Dần dần nó có thể tìm được một vị trí trong tình yêu mà cha mẹ dành cho nó. Nó lớn lên đi vào thế giới loài người.

Cũng vậy, chúng ta được biến đổi nhờ dìm mình trong Lời Chúa, Lời được nói với chúng ta. Chúng ta đọc Lời Chúa không phải để tìm kiếm thông tin. Chúng ta suy tư, học hỏi, chiêm niệm, sống, ăn và uống Lời. “Những lời ta truyền cho ngươi hôm nay sẽ ở trong trái tim nguơi; và ngươi hãy ân cần giảng dạy cho con cái ngươi, và hãy nói những lời ấy khi ngươi ở nhà, khi đi đường, lúc đi ngủ cũng như khi thức dậy” (Đnl 6:6tt). Lời Thiên Chúa hoạt động trong ta, làm cho chúng ta trở thành con người, đưa chúng ta vào cuộc đời, hình thành chúng ta trong tình bằng hữu là chính sự sống của Thiên Chúa. Như chân phước Jordan viết cho chị Diana trong lá thư Giáng sinh 1229, “Hãy đọc đi đọc lại Lời này trong tâm hồn con, suy đi nghĩ lại trong tâm trí con, hãy để cho nó trở nên ngọt như mật trên môi miệng con; hãy nghiền nghẫm, cư ngụ trong Lời, để Lời cư ngụ với con và trong con mãi mãi”.[41]

Tôi có một vài người bạn nhận con nuôi. Họ tìm thấy đứa bé trong một khu rộng lớn của một bệnh viện ở Sài Gòn, một đứa trẻ mồ côi trong cuộc chiến ở Việt Nam. Những tháng đầu tiên trong nhà thương, không ai có thời giờ để nhìn hay nói chuyện với nó. Nó lớn lên mà không biết mỉm cười. Nhưng cha mẹ nuôi chuyện trò với nó, mỉm cười với nó, với tất cả lòng yêu thương. Tôi nhớ cái ngày đầu tiên nó mỉm cười đáp lại. Lời Thiên Chúa nuôi dưỡng chúng ta, nhờ đó chúng ta trở nên sống động, trở nên người, và thậm chí có thể mỉm cười với Thiên Chúa. Một cộng đoàn trao ban sự sống sẽ là một cộng đoàn trong đó chúng ta trân trọng và chia sẻ Lời Chúa. Có nói thêm nữa về việc cầu nguyện cũng không đủ. Kinh nguyện có thể làm cho chúng ta cảm thấy ngột ngạt, nhất là nếu đọc với “tốc độ phi mã”. Khi cầu nguyện, Thánh Đaminh thưởng nếm lời Chúa, “nhấm nháp lời Chúa trong miệng và dường như Người thưởng thức những lời ấy” (cách thứ 5), như một người đang thưởng thức rượu vang Pháp một cách ngon lành. Thánh Albert Cả nói, chúng ta cần phải “thường xuyên được nuôi dưỡng bằng sự ngọt ngào của Lời Chúa”.[42]

Khi được nuôi nấng bằng lời của cha mẹ, đứa trẻ sẽ khám phá ra một sự thật vừa có tính giải thoát lại vừa đáng sợ: nó không phải là cái rốn của vũ trụ. Đằng sau bầu sữa là người mẹ. Mọi sự không còn theo lệnh nó. Nó khám phá ra nó là thành phần của một cộng đồng con người. Khi trò chuyện với cha mẹ, chúng ta khám phá ra chúng ta thuộc về một thế giới. Cũng thế, khi được Lời Chúa dưỡng nuôi, chúng ta được dẫn đưa vào một thế giới rộng lớn hơn. Vị mục tử đã đến để chúng ta được sống và sống dồi dào, người mở cổng để chúng ta có thể đi ra và tìm thấy những khung trời rộng lớn. Khi cầu nguyện, chúng ta làm một cuộc xuất hành, vượt qua cái vỏ sò nhỏ bé là nỗi ám ảnh của bản thân. Chúng ta bước vào thế giới rộng lớn của Thiên Chúa. Cầu nguyện là “một phương pháp rèn luyện làm cho tôi không còn ỷ mình là cái rốn cố định của một vũ trụ nhỏ bé, đồng thời cho phép tôi không ngừng tìm kiếm và đánh mất rồi tìm lại được chính mình trong những hình thái đan quyện vào nhau của một thế giới mà tôi không làm ra cũng chẳng kiểm soát được”.[43]

Đứa trẻ lớn lên trong đối thoại với cha mẹ, và khám phá ra nó không chỉ có một mình. Cũng vậy, chúng ta được lôi cuốn vào tình bằng hữu với Thiên Chúa, và một khi được chữa lành khỏi nỗi ám ảnh, chúng ta sẽ nhận ra thế giới thực tế. Yeats viết: “Chúng ta đã nuôi dưỡng trái tim bằng những điều hoang tưởng; món ăn này làm cho tâm hồn trở nên thô bạo”.[44] Kinh nguyện chữa lành trái tim chúng ta khỏi những hoang tưởng. Thánh Thomas nói rằng đọc kinh Lạy Cha sẽ “định hình toàn bộ đời sống tình cảm của chúng ta”.[45] Cầu nguyện để thánh ý Thiên Chúa được thể hiện và Nước Chúa trị đến, trái tim chúng ta sẽ được tái tạo.

Khi được giải thoát khỏi những hoang tưởng về bản thân, và bước vào thế giới rộng lớn của Thiên Chúa, chúng ta sẽ thấy những người khác đang phải chịu đựng bạo lực và phiền muộn. Anh Vincent de Couesnongle nói đến việc “chiêm niệm trên đường phố”. Đối với Thánh Đaminh, những người đau khổ và những người bị áp bức “là một phần nội dung ‘contemplata’ -những điều được chiêm niệm - trong câu ‘contemplata aliis tradere’ - chia sẻ cho người khác điều mình đã chiêm niệm… Chỉ do nhớ lại nỗi thống khổ mà Người đã nhìn thấy, hoặc do lòng trắc ẩn bẩm sinh của Người, thì không thể nào giải thích được vết thương đau do sự hiểu biết – từng khai mở trái tim và tâm trí Thánh Đaminh trong lúc chiêm niệm, cho phép Người thấy tận mắt nỗi đau khổ và nhu cầu của tha nhân”.[46] Anh Paul Murray nói, đó chính là “Vết thương đau do chiêm niệm”. Vì thế đời sống chiêm niệm là trung tâm của mọi sự tìm kiếm một thế giới công bình. Chiêm niệm làm cho chúng ta có khả năng nhìn mọi việc một cách vô vị lợi.

2. Cộng đoàn cử hành phụng vụ và thinh lặng

Khi đứa trẻ lớn lên, nó sẽ thôi la khóc, và dần dần có khả năng nói cũng như thinh lặng. Nó sẽ vừa học nói vừa học nghe. Đối với chúng ta cũng vậy, xây dựng cộng đoàn cầu nguyện đâu chỉ là đọc thêm một thánh vịnh vào giờ Kinh Chiều. Chúng ta phải kiến tạo một môi trường trong đó chúng ta có thể nói cũng như nghe, hoan hỉ  cũng như thinh lặng. Đây là hệ sinh thái cần thiết nếu chúng ta muốn phát triển.

Trong truyền thống Đaminh, nói với Thiên Chúa trước hết là cầu xin những gì chúng ta cần. Đó không phải là ấu trĩ nhưng là thực tế. Nó cho chúng ta thấy chúng ta đang thoát ra khỏi thế giới hoang tưởng nhỏ bé của thị trường, nơi người ta rao bán đủ thứ, và nhận ra rằng trong thế giới thực tế, mọi sự đều là ân ban từ Đấng là “nguồn mạch mọi điều thiện hảo dành cho chúng ta”.[47] Bắt đầu cầu xin là chúng ta bắt đầu trên đường tiến tới sự trưởng thành. Khi cầu nguyện chung với nhau, chúng ta có dám xin Thiên Chúa ban cho chúng ta điều chúng ta đang hết sức mong muốn không? Hay chúng ta chỉ đọc một vài lời cầu soạn sẵn trong sách nguyện?

Thoát ra khỏi nỗi ám ảnh của cái tôi là một khoảnh khắc ngất ngây. Chúng ta được giải thoát khỏi thế giới của cái tôi tối tăm rách nát. Giống như  bà Miriam sau khi qua khỏi Biển Đỏ, chắc chắn chúng ta cũng sẽ phấn khởi. Chúng ta vui sướng vì đã bước vào những khoảng không gian bao la của tình bằng hữu với Thiên Chúa. Vua David nhảy múa cuồng nhiệt trước Hòm Bia; Đức Maria vui mừng trong Chúa, vì những việc kỳ diệu Chúa đã làm cho Mẹ. Kinh nguyện của nhà giảng thuyết cũng phải hân hoan, ngây ngất. Chúng ta được kêu gọi để “Ca tụng, Chúc phúc, và Giảng thuyết” (Laudare, Benedicere, Praedicare). Thánh vịnh có câu: “Hãy hát lên mừng Chúa một bài ca mới”, chúng ta cũng hãy làm như vậy! Thánh Đaminh hoan hỉ khi cầu nguyện. Người dùng đến tất cả thân thể, dang rộng đôi tay, nằm phủ phục trên mặt đất, quì gối và thốt ra nhiều lời than thở. Vì toàn thân Người được ân sủng Chúa cứu độ, nên toàn thân thể phải cầu nguyện. Một số những kỷ niệm tốt đẹp nhất của tôi là những giây phút cầu nguyện với anh em. Tôi nghĩ đến thánh lễ tuyệt vời ở Haiti, giữa nghèo khổ và bạo lực. Tôi nghĩ đến điệu múa và bài ca của các nữ tu Zulu tại Nam Phi, đến bài ca tuyệt diệu và tha thiết trong đêm canh thức Phục sinh tại Krakov, đến tiếng pháo và tiếng chiêng một năm sau đó tại Đài Loan. Chúng ta có cử hành phụng vụ, và vui mừng với nhau trong Chúa, là Đấng đã làm những việc kỳ diệu nơi chúng ta không? Hay chúng ta chỉ coi đó là một bổn phận phải chu toàn? Quả thực đó là một bổn phận, bổn phận trọng đại nhất phát xuất từ tình bằng hữu. Chúng ta vui sướng làm mọi sự cho bạn hữu chúng ta.

Tôn sư Eckhart viết: “Thành đạt chính yếu và cao quý nhất trong cuộc đời là biết thinh lặng và để cho Thiên Chúa làm việc và nói bên trong”.[48] Không có tình bằng hữu nếu không có sự thinh lặng. Nếu không biết cách dừng, lặng im và lắng nghe người khác, chúng ta vẫn còn bị nhốt chặt trong cái thế giới nhỏ bé của mình, trong đó chúng ta là trung tâm và là cư dân duy nhất. Trong thinh lặng, chúng ta có một khám phá kỳ diệu và mang tính giải phóng, đó là chúng ta không phải là thần thánh, mà chỉ là thụ tạo.

Thinh lặng có nhiều thứ khác nhau. Có sự thinh lặng của các phụ nữ ở bên mộ Chúa, họ “không nói với ai vì họ sợ” (Mc 16:8). Đó là sự thinh lặng nhờ đó ta loại trừ điều hoàn toàn bất ngờ, điều mới mẻ, điều không thể tưởng tượng được. Đó là sự thinh lặng khi tôi không nghe những lời thiếu thiện cảm có thể làm cho tôi mất bình an. Có sự thinh lặng của các môn đệ đi trên đường về Emmaus, khi họ lắng nghe Chúa Kitô giải thích lời Kinh thánh cho họ. Họ chẳng nói gì cả, nhưng sau đó họ thốt lên “Tâm hồn chúng ta đã chẳng bừng cháy lên trong ta, khi Người nói với ta trên đường đi, trong lúc Người mở trí cho chúng ta am hiểu Kinh thánh đó sao?” (Lc 24:32). Anh Paul Philibert gọi kinh nguyện là việc chúng ta mở lòng ra trước những sáng kiến bí ẩn của Thiên Chúa.[49] Trong sự thinh lặng có thể bị tổn thương ấy, chúng ta để cho Thiên Chúa làm những điều mới mẻ và bất ngờ. Chúng ta phải mở ra để biết sững sờ trước sự tân kỳ của một vị Thiên Chúa luôn luôn gây ngạc nhiên: “Này đây Ta làm mới mọi sự” (Kh 21:5).

Đó là sự thinh lặng để chuẩn bị cho lời giảng. Thánh Ignace Antioche nói: Lời từ sự thinh lặng của Chúa Cha mà đến. Đó là Lời mạnh mẽ, rõ ràng, dứt khoát và chân thật, vì được sinh ra trong thinh lặng. Người “không phải vừa Có lại vừa Không; nhưng nơi Người luôn luôn là Có. Vì tất cả mọi lời hứa của Thiên Chúa đều là Có ở nơi Người” (2 Cr 1:19tt). Lời nói của chúng ta thường thiếu uy tín, vì vừa có lại vừa không, bóng gió và có hậu ý, đầy những ám chỉ và mơ hồ, vừa châm chọc vừa hờn dỗi. Chúng ta phải kiến tạo sự thinh lặng nhằm cưu mang và chia sẻ lời chân thực.

Làm cách nào để tái khám phá sự thinh lặng ấy trong chúng ta và trong cộng đoàn? Theo kinh nghiệm của tôi, không có cách nào khác hơn là cứ việc dùng thời gian thinh lặng trước mặt Chúa mỗi ngày.[50] Đây là một phương pháp rèn luyện mà tôi đã tìm kiếm và tránh né, đã đạt được và từng để trượt mất từ khi tôi vào Dòng. Tôi đã dùng gần hết thời gian suy gẫm để nghĩ tới thức ăn và những bản fax. Để có được sự thinh lặng chiêm niệm này, chúng ta cần đến sự trợ giúp của người khác. Chúng ta cần có cộng đoàn giúp chúng ta tăng trưởng trong sự thinh lặng an nhiên. Một tu sĩ Phật giáo nói với đan sĩ Merton, “Trước khi có thể suy niệm, bạn phải biết cách đừng đóng cửa rầm rầm”. Những người sống gần tôi biết rằng tôi chưa học được nghệ thuật đó! Mỗi cộng đoàn cần phải nghĩ cách tạo ra những thời khoảng và không gian tĩnh lặng.

Đó không phải là sự thinh lặng buồn thảm của nhà xác mà thỉnh thoảng chúng ta thấy trong quá khứ, một sự thinh lặng loại trừ người khác. Chúng ta khao khát một sự thinh lặng dẫn đến hiệp thông thay vì từ chối hiệp thông. Đó là sự thinh lặng dễ chịu có trước và sau khi nói, chứ không phải sự thinh lặng “vụng về” của những người chẳng có gì để nói với anh em. Khi còn nhỏ, tôi và đứa em thường hay vào rừng để bắt chim thú. Bí quyết là ở chỗ cùng nhau biết thinh lặng. Đó là sự hiệp thông trong khi cả hai cùng tập trung chú ý. Chúng ta có thể tìm thấy sự hiệp thông đó, nếu chúng ta lắng nghe nhau.

3. Sa mạc của sự chết và sự sống lại

Chúa Giêsu qui tụ chúng ta lại để chúng ta được sống và sống dồi dào. Đó là Tin Mừng chúng ta rao giảng. Tuy nhiên khi đáp lại lời kêu mời ấy, chúng ta thấy mình được dẫn đưa vào sa mạc. Là những người thuyết giảng lời, chúng ta có thể thấy mình chẳng có lời nào để trao tặng, chẳng còn gì có ý nghĩa. Là những người thuyết giảng tình yêu của Thiên Chúa, chúng ta lại thấy mình lẻ loi, cô đơn và bị bỏ rơi. Là những người được mời gọi tìm kiếm chính mình trong sự sống của Thiên Chúa, chúng ta lại phải đối diện với cái chết. Chúng ta là thụ tạo chứ đâu phải thần linh, và chúng ta phải chết. Lúc ấy chúng ta sẽ kêu lên như dân Israel đã kêu với ông Moses: “Phải chăng vì ở Ai Cập không có mồ chôn nên ông mới đưa chúng tôi ra đi để chúng tôi chết trong sa mạc?” (Xh 14:11). Vậy là chúng ta phải “đứng vững và đừng chao đảo trong tình trạng trống rỗng của chúng ta”, bằng cách tin tưởng rằng rồi sự sống sẽ đến.

Làm thế nào để nâng đỡ và động viên lẫn nhau khi chúng ta phải đối mặt với tử thần? Trước hết, chúng ta phải dùng sự tự do của Đức Giêsu mà khích lệ nhau. Biết rằng Con Người phải chết, Đức Giêsu quyết định đi lên Jerusalem. Sự tự do này, thỉnh thoảng tôi thấy nơi các anh em, chị em, khi họ hy sinh mạng sống của mình. Những năm trước khi bị sát hại, đức cha Pierre Claverie, O.P., giám mục giáo phận Orlan, Algeria, quyết định “lên đường đi Jerusalem”, vì người không đầu hàng đe dọa của những kẻ khủng bố, và không chịu lìa bỏ đoàn chiên của mình. Năm 1994, trong một bài giảng, đức cha nói, “Tôi đã tranh đấu cho cuộc đối thoại và tình hữu nghị giữa dân tộc, giữa các nền văn hóa và các tôn giáo. Có thể tôi sẽ phải chết vì tất cả những điều đó, nhưng tôi sẵn sàng đón nhận”.[51]

Sự tự do của Chúa Giêsu trong lúc đối diện với cái chết lên tới đỉnh cao trong đêm trước cuộc tử nạn, khi Người lấy thịt mình trao cho các môn đệ, một cử chỉ biểu lộ sự tự do đáng kinh ngạc. Chúa đã trao lại việc ấy cho chúng ta để chúng ta làm cho nhau, khi đối mặt với tử thần. Tôi nhớ một buổi sáng Phục sinh tại tu viện Blackfriars, tôi hân hoan cử hành thánh lễ với một anh em sắp chết vì ung thư. Tất cả cộng đoàn đều tụ tập trong phòng. Sau đó chúng tôi uống sâm banh để mừng lễ Phục sinh. Mấy tuần trước đây, tôi cử hành thánh lễ với các anh chị em tại Iraq, khi họ đang chờ một cuộc tấn công chắc chắn sẽ xảy ra. Thánh Thể sẽ không thể trở thành trung tâm của đời sống cộng đoàn chỉ vì chúng ta đã cảm thấy mình hợp nhất với nhau, hoặc chúng ta sẽ hiệp nhất với nhau. Đó là Bí tích của một sự sống phong phú – đơn thuần là một hồng ân, là “bánh đem lại sự sống” mà Thánh Đaminh hứa rằng chúng ta sẽ tìm thấy ở trong Dòng. Chúng ta cùng nhau lãnh nhận bánh đó, trao tặng cho nhau lương thực sa mạc.

Chúng ta sống ý nghĩa của thánh lễ đó khi chúng ta để cho nhau được tự do, chia sẻ cho nhau sự tự do vô biên của Chúa Kitô. Có thể đó là một hành động tự do nho nhỏ khi chúng ta tự nguyện tha thứ cho nhau, khi chúng ta đoạn tuyệt với một lối sống cũ, hoặc khi chúng ta đảm nhận một sự mạo hiểm. Chúng ta hãy sống tự do. Anh Lacordaire đã viết, “Tôi đi đến nơi Thiên Chúa dẫn tôi đến, tôi không chắc chắn về chính tôi, nhưng chắc chắn về Người”. Trong tất cả những đường lối này, chúng ta để cho mình bị cuốn hút vào luồng gió của Thánh Linh đến từ Cha và Con, Người kêu lên trong chúng ta “Cha ơi”. Tôn sư Eckhart nói, “Không phải chính chúng ta cầu nguyện, nhưng Thánh Linh cầu nguyện thay cho chúng ta”. Như vậy, khi trở nên sống động nhất, chúng ta sẽ đạt tới sự tự do và tự phát. Chúng ta để cho mình bị cuốn hút vào những cử điệu, như người vũ công dập dìu theo điệu nhạc, tìm được vẻ duyên dáng và sự thoải mái trong vũ điệu.

Trong lúc tạo thành thế giới, sự khôn ngoan nhảy múa trước mặt Thiên Chúa. Thánh Thomas nói rằng việc chiêm niệm của người khôn ngoan tựa như trò chơi, vì nó thú vị và vì người ta làm vì chính nó, như một vũ điệu. “Nghiêm túc quá là dấu chỉ thiếu nhân đức, vì nó hoàn toàn khinh rẻ trò chơi, là điều cần thiết cho một đời sống lành mạnh của con người cũng giống như chính sự nghỉ ngơi vậy”.[52] Sự phong phú của đời sống sẽ đưa chúng ta đến tinh thần vui chơi của những người đã giũ bỏ được gánh nặng phải làm những vị thần nhỏ bé. Chúng ta có thể giũ bỏ sự nghiêm túc khủng khiếp của những người nghĩ rằng mình đang gánh cả thế giới trên vai. Khi ấy, cộng đoàn sẽ thực sự là nơi để chúng ta bắt đầu hưởng nếm hạnh phúc Nước Trời. Lạy cha Thánh Đaminh, “Nos junge beatis”, xin cho chúng con được hợp đoàn với các thánh, và cho chúng con giờ đây được chia sẻ đôi chút ánh hạnh phúc của các ngài ở trên trời.

 

 

 

 

 

[1] Stephen of Salagnac 1.9, ed Thomas Kaeppeli, O.P. MOPH XXII, Monumenta Ordinis Praedicatorum Historica (MOPH), XXII, Roma 1949, tr 81.

[2] Cornelius Ernst, O.P., The Theology og Grace, Dublin 1974, tr 42.

[3]  Căn tính của người tu sĩ hôm nay, Hội nghị các Bề trên thượng cấp Dòng nam, Hoa Kỳ, 1996. Được xuất bản dưới tựa đề: “Ơn gọi Tu trì: Từ bỏ những Dấu chỉ Căn tính Quen thuộc”.

[4]  Hiến Pháp Nền Tảng, IV.

[5]  Cernai 21, trích dẫn bởi Tugwell (ed), Thánh Đaminh, Lodon 1997, tr. 125.

[6]  “What Is My Licence to Say What I Say ?”, Dominican Ashram, tháng 3-1982, tr. 10.

[7]  Die deutsche predigten un lateinschen Werke, Stuttgart 1936, tập V, tr. 197.

[8]  Prediche del Beato Giordano da Rivalto, ed. A. M. Bisconi e D. M. Manni, Firenze 1739, tr. 9.

[9]  Herbert McCabe, O.P., God Matters, London 1987, “On Being Dominican”, tr. 240.

[10]  Cornelius Ernest, O.P., Ibid., tr. 72.

[11]  Sermons and Treatises, M. O’C. Walshe dịch, tập I, London 1979, tr. 44.

[12]  Thánh Thérèse Lisieux, Tự Thuật, Paris, tr. 226.

[13]  Xc. Giai đoạn đào tạo sơ khởi, trong tập này, tr. 177.

[14]  In Jn 26.

[15]  “Calling Forth a Healthy Chaste Life”, Review for Religious, tháng 5-6, 1998, tr. 264.

[16]  D. A. Mortier, O.P., Histoire des maitres generaux de l'ordre des Frères Prêcheurs, tập I, Roma 1903, tr. 528.

[17] The Letters of Bede Jarrett, O.P., Bede Bailey Aidan Bellenger và Simon Tugwell, Bath 1989, tr. 182.

[18] Thư 46, Vann, O.P. dịch, To Heaven with Diana, London 1959, tr. 120.

[19]  Thư 48, Ibid. tr. 28.

[20]  Nicolas Lash, The Beginning and the End of Religion, Cambrige 1996, tr. 21.

[21]  Sentences 3 d 35, 1,2,1.

[22]  Vision of  Albion 7,17.

[23]  Ibid., tr. 263.

[24]  Simon Tugwell, Reflections on the Beatitudes, London 1980, tr. 78.

[25]  Jean-Louis Bruguès, O.P., Les idees heureuses, Paris 1996, tr. 56.

[26]  Tugwell, The Way of Preacher, London 1979, tr. 96

[27]  Joseph Pieper, A Brief Reader on the Virtues of the Human Heart, San Francisco, tr. 44.

[28]  Tôn sư Eckhart, Walsh dịch, Ibid., Bài giảng 8.

[29]  Ibid., Bài giảng 68.

[30]  Gerald Vann, O.P., Ibid., tr. 46.

[31]  Ibid., tr. 157; Như Hạ dịch thơ.

[32]  Paul Murray, O.P., A Song for the Afflicted, chưa xuất bản. Như Hạ dịch thơ.

[33]  Roman Williams, Open for Judgement, London, tr. 184.

[34]  Iris Murdoch, The Fire and the Sun : Why Plato Banished the Artists, Oxford 1979 tr. 36, được trích dẫn bởi Fergus Kerr, O.P., Immortal LOngings : Versions of Transcending Humanity, India 1979, tr. 72.

[35]  John Howard Griffin, Thomas Merton, The Hermitage Years, London 1993, tr. 60.

[36]  Griffin, Ibid. tr. 87.

[37]  Sebastian Moor OSB, The Inner Loneliness, London 1982, tr. 40.

[38]  Ibid., tr. 58.

[39]  Thánh Augustin, Tự thú 3.6.11.

[40]  Summa Theologiae, I. 43, a 5, ad 2.

[41]  Thư 41, Vann dịch, Ibid.. tr. 112.

[42]  Bài giảng Recherches de Theologie Anciennw et Medievale 36 1969 tr. 109.

[43]  Rowan Williams, Ibid.., tr. 120.

[44]  “Meditations in Time of Civil War”, Collected Poems, London 1969 tr. 230.

[45]  St. Thomas Aquinas, Summa Theologiae, II.II, q. 83, a. 8.

[46]  Paul Murray, O.P., Dominicans Grounded in Contemplative Experience', bài nói chuyện tại River Forestr, Chicago 6-1997.

[47]  St. Thomas Aquinas, Summa Theologiae, II.II, q. 83, a. 2., ad. 3.

[48]  Sermons and Treatises,Walshe dịch, tập I, London, 1979, tr. 6.

[49]  Living in the Meantime, New York, 1994, tr. 126.

[50]  xc. Hiến Pháp Nền Tảng, 66. II.

[51]  Bài giảng nhân cái chết của anh Henri và chị Pauline-Hélène, La Vie Spirituelle, 10-1997, tr. 764.

[52] Eth and Nic iv ib 854.