Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP. chủ biên

 

I. NHỮNG TÀI LIỆU LỊCH SỬ VỀ THÁNH ĐAMINH

Khi viết về lịch sử, cần phải dựa trên các dữ kiện thâu lượm được qua các tài liệu chứng tích (“nói có sách mách có chứng”), chứ không có chuyện nặn óc thêu dệt như khi viết tiểu thuyết. Xét về giá trị tín lực, các chứng tích được xếp vào nhiều cấp độ khác nhau. Những chứng tích được thuật lại do người đã “thấy tận mắt nghe tận tai” thì hẳn là có giá trị hơn là những chứng tích biết được do tin đồn. Đó là nói trên nguyên tắc, chứ trên thực tế thì chưa hẳn là chứng tích của những người sống trong cuộc lúc nào cũng có giá trị khách quan tuyệt đối. Xin trưng dẫn hai thí dụ cụ thể. 1/ Thánh Têrêsa hài đồng Giêsu đã viết các bản tự thuật đời mình (1895-1897); nhưng sau khi tác giả qua đời thì các bà chị đã tự tiện sửa đổi hơn bảy ngàn chỗ (!) khi xuất bản cuốn Một tâm hồn (1898). Phải chờ đến năm 1956 (nghĩa là chờ cho bà chị Pauline và Céline về chầu Chúa), người ta mới có thể đọc được nguyên bản của Têrêsa. 2/ Nhật ký của đức Gioan XXIII cũng có nhiều đoạn không đúng với sự thực, không phải tại vì bị kiểm duyệt đục bỏ những chỉ tại vì trí nhớ của đương sự đã bị cùn: năm chịu phép thêm sức được ghi là 1887 (sai: theo sổ của nhà xứ là 13/2/1889); lãnh phép cắt tóc vào ngày áp lễ thánh Phêrô tức là 28/6 (sai: theo sổ của toà giám mục là ngày 24/6), và hôm sau được tham dự một lễ tấn phong giám mục (sai: cuộc tấn phong giám mục xảy ra một năm sau đó). Vì thế, các chứng tích “nóng hổi” cũng cần phải được kiểm chứng phê bình chứ không thể nhắm mắt tin theo.

Nếu chúng ta đi ngược lại 7 thế kỷ về trước, khi mà máy ghi âm và máy chụp hình chưa được phát minh, nhất là khi mà tính cách trung thực của dữ kiện không quan trọng cho bằng các “thánh tích” và các “phép lạ” được bịa ra để tôn vinh danh Chúa, thì việc truy tầm các chứng tích chính xác về Thánh Đaminh và thời buổi nguyên thủy của Dòng không phải là chuyện đơn giản. Nếu so sánh với các dòng khác, thì phải nhận rằng anh em Đaminh không có não trạng “tôn sùng lãnh tụ” hay là “mẹ hát con vỗ tay”! (Cha Đaminh đã chẳng ước mong được chôn vùi dưới chân anh em đấy ư?). Anh em chẳng tha thiết gì đến việc lo phong thánh cho tổ phụ của mình, đến nỗi chính đức giáo hoàng phải khiển trách và thúc họ tiến hành thủ tục. Chính trong hoàn cảnh “cưỡng bách” như vậy mà những tác phẩm đầu tiên về cuộc đời Thánh Đaminh đã được viết ra, nghĩa là để thu thập chứng tích bổ túc hồ sơ phong thánh, hay là soạn các bài đọc cho buổi cử hành phụng vụ.

Xét theo thứ tự thời gian, chúng ta có thể phân loại như sau:[1]

  1. Acta canonizationis sancti Dominici. Biên bản các lời khai trước toà án Tông toà, tại Bologna (1233 với 9 nhân chứng), và Toulouse (1234 với 27 nhân chứng), được xuất bản trong tủ sách MOPH XVI (Roma 1935) (Học viện Đaminh đã dịch: Tiến trình phong thánh cho Cha Đaminh, 15-09-2012).

  2. Các tác phẩm của tổng quyền Giordano: Libellus de principiis Ordinis Praedicatorum (1234-35), kèm theo thư luân lưu nhân dịp cải táng (24/5/1233): Epistola Encyclica de actis in translatione corporis S. Dominici.

  3. Sau khi Đaminh được phong thánh (3/7/1234), các “legenda” được soạn ra cho bản văn phụng vụ.Legendakhông phải là chuyện dã sử hoang đường,[2] nhưng là những bài đọc (legere, lectio) trong phụng vụ (giờ Kinh Sách dành cho chính ngày lễ và tuần bát nhật). Các bản văn được kiện toàn dần dần:

- Legenda Sancti Dominici của Pedro Ferrando, năm 1235 (được các tổng hội 1236, 1238, 1239 phê chuẩn). Hai phần ba tư liệu được rút từ quyển Libellus của cha Giordanô.

- Legenda Sancti Dominici của Constantino Orvietô, năm 1245/46 (được các tổng hội 1246, 1247, 1248 phê chuẩn). Constantinô (về sau làm giám mục Orvietô) bổ túc thêm với những tài liệu do cha tổng quyền Joannes Teutonicus cung cấp, nhất là các phép lạ. Đồng thời tác giả cũng trưng dẫn nhiều câu Kinh thánh để chú giải các sự kiện được kể, chẳng hạn như có những điềm báo trước ngày sinh và sứ mạng của Đaminh (cũng tựa như thiên sứ Gabriel đã hiện ra với ông Dacaria để báo trước sứ mạng của Gioan Tiền Hô).

- Legenda Sancti Dominici của Humbertus de Romans, soạn ra trong thời kỳ tu chính các bản văn phụng vụ trong Dòng (được các tổng hội 1254, 1255, 1256 phê chuẩn).

  1. Khi thế hệ đầu tiên của Dòng sắp qua đi, người ta lo thâu lượm các chứng từ về thánh tổ phụ và đồng bạn tiên khởi. Mục tiêu chính yếu không phải là xuất bản thành tư liệu sử học nhưng là để giúp vào việc huấn luyện tu đức cho các anh em mỗi khi chiêm ngắm những mẫu gương của các bậc tiền bối. Ngoài ra còn phải thêm một mục tiêu thứ yếu nhưng không kém phần quan trọng, đó là anh em thấy nhức nhối khi thấy Dòng Phanxicô xuất bản nhiều tư liệu về các phép lạ của thánh tổ phụ và các đồng bạn. Quân ta cũng quyết định cho ra đời các bộ sưu tập các thánh tích và phép lạ để thiên hạ biết rằng Dòng Giảng thuyết không thua kém gì Dòng Anh em Hèn mọn đâu![3]

Có thể xếp vào loại này:

- Vitae Fratrum Ordinis Praedicatorum necnon chronica Ordinis ab anno 1203 usque 1254 của Gerald de Frachet (1195-1270), được ấn hành trong tủ sách MOPH I (Roma 1896). Tổng hội 1245 truyền cho các anh em nếu biết được phép lạ nào của Thánh Đaminh thì hãy thông báo cho bề trên tổng quyền Giorđanô. Lệnh này còn được lặp lại ở các tổng hội 1252, 1255 và 1260. Trong bối cảnh này mà cuốn sách Vitae Fratrum được biên soạn do Gerald de Frachet, giám tỉnh Paris (khoảng năm 1259), và được tổng hội 1260 phê chuẩn. Tác phẩm được chia làm 5 phần: 1/ Các lời tiên tri về việc thành lập Dòng. 2/ Các chuyện xảy ra trong đời Thánh Đaminh. 3/ Các chuyện xảy ra trong đời chân phước Giorđanô. 4/ Đời sống nhân đức của vài anh em vào buổi nguyên thủy. 5/ Cái chết lành thánh của vài anh em (Xem Phụ trương, chương XVII).

- Vita sancti Dominici của Rodrigo de Cerrato (khoảng 1270-1282).

- Miracula beati Dominici do chị Cêcilia Cesarini kể lại (khoảng 1288).

- Libellus de vita et obitu et miraculis S. Dominici et de ordine quem instituit của Dietrich (Theoricus) Apolda viết khoảng 1298.

- Những tác phẩm vô danh: Quomodo s. Dominicus orabat (các cách cầu nguyện của Thánh Đaminh, viết trong khoảng 1260-1290), Tractatus de approbatione Ordinis Fratrum Praedicatorum (viết khoảng 1260-1270).

II. NHỮNG TÀI LIỆU LỊCH SỬ VỀ DÒNG ĐAMINH

Khi muốn tìm hiểu lịch sử và tinh thần của Dòng, thì ngoài những tư liệu về tiểu sử của vị sáng lập, cần phải bổ túc với những tài liệu khác, đặc biệt là các văn kiện pháp lý.

  1. Đứng đầu là các văn kiện Toà thánh châu phê Dòng hoặc giới thiệu Dòng với hàng giáo phẩm thế giới. Tuy xuất phát từ Phòng Chưởng ấn của Toà thánh, nhưng nội dung ý tưởng là do chính cha Đaminh đã dùi. Các văn kiện vào buổi nguyên thủy (non 60) được xuất bản trong tủ sách MOPH XXV dưới tựa đề: Monumenta Diplomatica S. Dominici Roma 1966.

  2. Tiếp đến là các bản Hiến pháp, và công vụ các tổng hội.

1/ Tuy đã có bài về các bản Hiến pháp của Dòng, nhưng hy vọng sẽ có dịp trở lại phân tích nội dung của nó, qua việc đối chiếu với các bản hiến pháp của các dòng cổ điển, để xem Thánh Đaminh đã thu nhận những yếu tố nào của truyền thống và đã du nhập những yếu tố nào mới mẻ. Thực vậy, Thánh Đaminh không để lại một tác phẩm nào đáng kể ngoài bản hiến pháp nguyên thủy, một công trình mà ngài cùng soạn ra với anh em. Xin nhắc lại là tên gọi của Hiến pháp là Consuetudines Fratrum Praedicatorum(1216) hay Institutiones Fratrum Ordinis Praedicatorum (1220, như còn được duy trì trong công thức khấn dòng), rồi đến Constitutiones Ordinis Fratrum Praedicatorum (1239),Constitutiones Fratrum S. Ordinis Praedicatorum (1924), Liber Constitutionum et Ordinationum Ordinis Fratrum Praedicatorum(1968) (Xem chương IX: Pháp luật).

2/ Vào lúc đầu, các tổng hội họp hằng năm vào dịp lễ Hiện xuống (cho đến năm 1244, luân phiên tại Bologna và Paris, trụ sở của hai đại học luật khoa và thần học thời danh của thế kỷ); từ năm 1372, hạn kỳ tăng lên 2 năm một lần. Từ năm 1561 cho đến nay, hạn kỳ là 3 năm một lần. Tổng cộng là 290 tổng hội (tính cho đến năm 2010). Bộ sưu tập công vụ các tổng hội (từ 1220 đến 1904) được B. M. Reichert xuất bản thành 8 quyển trong tủ sách MOPH (Roma 1898-1906). Việc sưu tập các bản công vụ của các tổng hội họp trong những thế kỷ gần đây (từ khi có ngành ấn loát) tương đối dễ hơn. Ngoài ra cũng nên biết là cho đến công đồng Vaticanô II, các tổng hội và tỉnh hội chỉ họp trong vòng một tuần lễ, chứ không dai dẳng với những tuyên ngôn dài lê thê như là từ sau công đồng!

  1. Một loại thứ ba là các văn thư của các bề trên tổng quyền giải thích lề luật và hiến pháp, hoặc là các huấn thị nhắm việc đào tạo các thế hệ trẻ. Vài các tác phẩm quan trọng:

1/ Jordanus de Saxonia (+1237). ngoài hai tác phẩm đã nói trên đây, người kế vị thánh tổ phụ còn nổi tiếng về các thư luân lưu gửi cho anh em và các thư gửi cho chị em trong những năm 1222-1236, được thu thập và xuất bản do J. J. Berthier (ed.), B. Jordani de Saxonia, alterius Praedicatorum Magistri, opera ad res Ordinis Praedicatorum spectantia, Friburgi Helvetiorum 1891.

2/ Humbertus de Romans (+1277). Cha Humbertus làm bề trên tổng quyền trong những năm 1254-1263, có công lớn trong việc tu chính các sách phụng vụ và hiến pháp. Những tác phẩm chính: Epistolis de tribus votis substantialibus religiosis. Expositio Regulae B. Augustini. Expositio super Constitutiones Fratrum Praedicatorum. Instructiones de officiis Ordinis. Liber de eruditione praedicatorum. Epistolae ex Capitulis Generalibus ad Ordinem scriptae. Các tác phẩm này được J. J. Berthier sưu tập và xuất bản dưới tựa đề Opera de vita regulari 2 vol., Roma 1889.[4]

3/ B. M. Reichert, (ed.) Litterae encyclicae Magistrorum Generalium Ordinis Praedicatorum, Roma 1900 (MOPH V): các thư luân lưu của các bề trên tổng quyền từ 1233 đến 1376.

Các văn kiện gần đây của Dòng có thể truy cập trên mạng Internet của Trụ sở Trung ương:http://www.op.org/en/official-documents.

Sau phần kiểm kê các tư liệu, lần tới chúng ta sẽ tìm hiểu ý nghĩa của danh hiệu, huy hiệu, khẩu hiệu, cũng như những biểu hiệu của Dòng.

 

 

[1] Nói chung, các nguồn sử liệu của Dòng được xuất bản trong tủ sách Monumenta Ordinis Fratrum Praedicatorum Historica (viết tắt: MOPH), bắt đầu từ năm 1896 đến nay.

[2] Như vậy, nó không đồng nghĩa với légende trong tiếng Pháp, legend tiếng Anh.

[3] Đối chiếu với các tài liệu do Dòng Phanxicô xuất bản: Dialogus de gestis sanctorum fratrum minorum(1246), Tommaso de Celano, Vita I (1228), Vita II (1246), Tractatus de miraculis (1253), S. Bonaventura,Legenda maior S. Francisci; Legenda minor (1260-1262). Ngoài ra cũng nên đối chiếu ngày phong thánh của hai vị tổ phụ (Phanxicô qua đời ngày 3/10/1226 và được phong thánh ngày 16/7/1228: chết sau mà làm thánh trước!) cũng như hai người vị thánh đầu tiên của hai dòng, nổi tiếng về các phép lạ: Antôniô Pađova OFM (+13/6/1231 - 30/5/1232) và Phêrô Verona OP (+6/4/1252 - 9/3/1253). Sự ganh đua nhiều khi đưa đến chỗ đả kích bôi nhọ lẫn nhau. Nhằm xoa dịu những căng thẳng, người ta “bịa” ra sự tích hai thánh tổ phụ ôm nhau: con cái hãy bắt chước cha mẹ nhé!

[4] Hình như cha Hoàng Công Độ đã dịch ra tiếng Việt trong thời gian làm bề trên ở Vũng tàu.